Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 154/2024/HS-ST

Ngày 18-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga

Bà Vũ Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ

(tên gọi khác: không), sinh ngày 09 tháng 3 năm 1975 tại Hòa Bình.

Nơi cư trú: xóm G, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị M (đã chết), C vợ là: Đinh Thị T, sinh năm 1979; có 01 con sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1995; trú tại: xóm M, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện theo ủy quyền của người bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971 (bố đẻ); trú tại: xóm M, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Phùng Thị T1 – TGVPL của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/4/2024, Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975; trú tại: xóm G, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình điều khiển xe ô tô BKS 92C-030.22 đi từ nhà tại xã H đến đồi xóm M, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình để chở gỗ keo. Khi đến đoạn đường dân sự thuộc xóm M, xã Q, Đ điều khiển xe ô tô đi hướng đường liên xã Q - H đến đồi xóm M thì quan sát thấy phía trước có chị Nguyễn Thị S đang đi bộ sát lề đường bên phải phía trước. Do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ trong quá trình điều khiển xe ô tô dẫn đến thanh chắn an toàn sườn xe xe ô tô bên phải chạm và tỳ trượt người chị S vào tường bê tông bên phải theo hướng ô tô di chuyển. Hậu quả chị S bị thương, được đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu.

Tại Kết luận giám định số 4818/K1-KTHS ngày 18.7/2024 của V - Bộ C1 đối với xe ô tô BKS: 92C-030.22 kết luận: Hệ thống phanh còn tác dụng hãm xe nhưng không đảm bảo an toàn kỹ thuật do bàn đạp phanh không còn dự trữ hành trình và quãng đường phanh của xe vượt quá quy định. Hệ thống lái đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 103/KLGĐTTCT-TTPY ngày 20/7/2023 của Trung Tâm P – Sở y tế tỉnh H đối với Nguyễn Thị S kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị S tại thời điểm giám định là 68%.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 20/4/2024 đối với Nguyễn Văn Đ kết luận: Nồng độn cồn 0.000mg/L.

Tại biên bản kiểm tra ma túy ngày 20/4/2024 đối với Nguyễn Văn Đ kết luận: Âm tính với chất ma túy.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe ô tô BKS 92C-303.22 nhãn hiệu CuuLong, màu sơn xanh. Xe đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự:

- Quá trình giải quyết vụ án bị cáo Nguyễn Văn Đ đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị S số tiền 65.000.000 đồng. Bị hại, đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu đề nghị gì thêm.

Cáo trạng số 144/CT-VKSTPHB ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố Nguyễn Văn Đ về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại nêu quan điểm: Nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Vấn đề dân sự giữa bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận xong nên không đề nghị gì thêm. Đại diện gia đình bị hại xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và chăm sóc gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định thương tổn trên cơ thể, khám nghiệm dấu vết phương tiện, các kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/4/2024 tại đoạn đường dân sinh thuộc xóm M, xã Q, hướng đường liên xã Q - H. Nguyễn Văn Đ là người có giấy phép lái xe điều khiển xe ô tô BKS: 92C-030.22 đi hướng Q - H do thiếu chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ khi di chuyển trong đoạn đường hẹp đã va chạm với chị Nguyễn Thị S đi bộ phía trước. Hậu quả chị Nguyễn Thị S bị tổn thương 68% sức khỏe.

Bị cáo điều khiển xe ô tô không chấp hành luật giao thông, không làm chủ tốc độ gây tai nạn dân đến làm tổn thương sức khỏe bị hại là 68%. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với tình tiết “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố H, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:

Nguyễn Văn Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo được học và hiểu Luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo đã không chấp hành, không chú ý quan sát và tốc độ, không giảm tốc độ với đoạn đường bắt buộc giảm tốc dẫn đến xảy ra va chạm hậu quả bị hại bị tổn thương 68% sức khỏe. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông, gây hậu quả thiệt hại đến sức khỏe và tính mạng của người khác. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018 quy định: “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về vận tốc xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; nơi có biển bản “cự ly tối thiểu giã hai xe” phải giữ khoảng các không nhỏ hơn số ghi trên biển báo”; và vi phạm Điều 5 Thông tư 31 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại và gia đình bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng; bị cáo phạm tội có một phần lỗi của bị hại...... đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, luôn chấp hành tốt các chính sách tại địa phương nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý

cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không trái với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo việc cho bị cáo hưởng án treo không trái với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy không cần thiết phải cấm bị cáo hành nghề hoặc làm một công việc nhất định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; đại diện theo ủy quyền của bị hại đã xác nhận nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 xe ô tô BKS 92C-303.22 nhãn hiệu CuuLong, màu sơn xanh. Xe đã qua sử dụng đã được trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 2153 ngày 26/9/2024 và của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND TΡΗΒ;
  • - СА ТРНВ;
  • - Chi cục THA ТРНВ
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Hợp Thành, TPHB;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ánh Hồng

Nguyễn Đăng Tuyến

Trần Minh Thêu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 154/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ K1 Đ206
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger