Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/DS-ST

Ngày: 18/6/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Minh Tuấn
  2. Ông Trần Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-DS ngày 04/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.

Địa chỉ trụ sở chính: 130 đường P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ông Dương Ngọc L (có mặt).

Địa chỉ liên lạc: 324E đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số E đường C, khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/9/2022, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Thanh V có ký Hợp đồng tín dụng dài hạn số : K.0034/1322. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho ông Nguyễn Thanh V vay 2.000.000.000 đồng để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng bất động sản. Lãi suất cho vay áp dụng cho 03 tháng đầu tiên là 9,5%/năm. Sau đó, lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ hàng tháng theo lãi suất cơ sở cộng với biên độ là 4%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay là 240 tháng kể từ ngày bên vay rút khoản vốn vay đầu tiên. Việc trả nợ gốc và lãi được phân chia theo các kỳ hạn và được trả vào ngày 20 hàng tháng.

Để đảm bảo cho khoản vay ngày 27/9/2022, Ngân hàng và ông Nguyễn Thanh V đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0034/TC22 Theo hợp đồng, ông Nguyễn Thanh V thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (do ông V là chủ sử dụng, chủ sở hữu) tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD657776, số vào sổ cấp GCN: CS03169 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 18/02/2022).

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho ông Nguyễn Thanh V. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh V không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trong quá trình vay từ ngày 29/9/2022 đến ngày 29/02/2024, ông Nguyễn Thanh V mới thanh toán cho Ngân hàng được 91.850.000 đồng tiền nợ gốc, 215.021.024 đồng tiền nợ lãi trong hạn và 410.205 đồng tiền nợ lãi quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 18/6/2024, ông Nguyễn Thanh V còn nợ Ngân hàng 2.095.699.057 đồng gồm: Tiền gốc 1.908.150.000 đồng; tiền lãi trong hạn 182.007.897đồng; tiền lãi quá hạn 5.541.160 đồng.

Ngân hàng nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Thanh V vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện ông V để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Thanh V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 18/6/2024 là 2.095.699.057 đồng gồm: Tiền vốn gốc 1.908.150.000 đồng; tiền lãi trong hạn 182.007.897 đồng; tiền lãi quá hạn 5.541.160 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, ông Nguyễn Thanh V còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng dài hạn số: K.0034/1322 ngày 27/9/2022.

Trường hợp ông Nguyễn Thanh V không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD657776, số vào sổ cấp GCN: CS03169 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 18/02/2022) để thu hồi nợ.

Ngân hàng xác định khoản nợ vay nêu trên là của cá nhân ông Nguyễn Thanh V đối với Ngân hàng nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Thanh V trả nợ cho Ngân hàng.

Tại Bản tự khai ngày 07/5/2024, bị đơn ông Nguyễn Thanh V trình bày: Ông V xác nhận việc ông có ký kết với Ngân hàng Hợp đồng tín dụng dài hạn số: K.0034/1322 ngày 27/9/2022. Đồng thời, ông V cũng thống nhất với nội dung và yêu cầu khởi kiện của phía Ngân hàng. Hiện nay, ông V không có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng nên ông đề nghị Tòa án tuyên phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An mà ông đã thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ vay của ông.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện ông Nguyễn Thanh V yêu cầu trả nợ vay trong hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy, tại Điều 14 của Hợp đồng tín dụng dài hạn số: K.0034/1322 ngày 27/9/2022 các bên có thỏa thuận nếu phát sinh tranh chấp từ hợp đồng thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân nơi Ngân hàng TMCP Đ-Chi nhánh Q đặt trụ sở giao dịch. Ngoài ra, tại Đơn xin chọn thẩm quyền Tòa án giải quyết ngày 06/3/2024 thì Ngân hàng TMCP Đ đã lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 10 giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét giấy ủy quyền số: 43/QĐ-DABQ10 ngày 10/8/2022 của ông Nguyễn Tấn Thành ủy q cho ông Dương Ngọc L tham gia tố tụng là hợp lệ nên được Tòa án chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh V xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng dài hạn số: K.0034/1322 ngày 27/9/2022, do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy, giao dịch vay tài sản giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Thanh V là loại vay có thời hạn và có biện pháp bảo đảm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Thanh V vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng được quyền khởi kiện đối với ông Nguyễn Thanh V để thu hồi nợ.

[2.1] Xét yêu cầu về khoản nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng dài hạn số: K.0034/1322 ngày 27/9/2022, Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định Ngân hàng TMCP Đ có cho ông Nguyễn Thanh V vay 2.000.000.000 đồng. Theo các bản khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp cho thấy ông V có trả cho Ngân hàng được 91.850.000 đồng tiền nợ gốc, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Thanh V còn nợ Ngân hàng 1.908.150.000 đồng tiền nợ gốc. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Nguyễn Thanh V phải trả cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc còn lại là 1.908.150.000 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu về khoản nợ lãi: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng dài hạn số: K.0034/1322 ngày 27/9/2022, các bên có thỏa thuận lãi suất cho vay áp dụng cho 03 tháng đầu tiên là 9,5%/năm. Sau đó, lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ hàng tháng theo lãi suất cơ sở cộng với biên độ là 4%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo lời khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 18/6/2024, ông Nguyễn Thanh V còn nợ Ngân hàng số tiền lãi là 187.549.057 đồng trong đó: Nợ lãi trong hạn là 182.007.897 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.541.160 đồng. Xét thời gian tính lãi và cách tính lãi mà Ngân hàng áp dụng đối với ông Nguyễn Thanh V không trái với hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết và không trái với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về khoản nợ lãi, buộc ông Nguyễn Thanh V phải trả cho Ngân hàng khoản nợ lãi là 187.549.057 đồng.

[2.3] Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: Xét thấy để đảm bảo cho khoản vay của ông Nguyễn Thanh V, ngày 27/9/2022 Ngân hàng và ông Nguyễn Thanh V đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0034/TC22 Theo hợp đồng, ông Nguyễn Thanh V thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (do ông là chủ sử dụng, chủ sở hữu) tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DD657776, số vào sổ cấp GCN: CS03169 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 18/02/2022). Theo biên bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 cho thấy: Tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An là thửa đất trống (trên đất không có công trình xây dựng) hiện do ông Nguyễn Thanh V đang trực tiếp quản lý sử dụng.

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0034/TC22 ngày 27/9/2022 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng này đã phát sinh hiệu lực pháp luật và có giá trị ràng buộc đối với các bên. Xét thấy, ông Nguyễn Thanh V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó căn cứ vào Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0034/TC22 ngày 27/9/2022 thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An để thu hồi nợ.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn 15.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 167, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Thanh V phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 2.095.699.057 đồng (hai tỷ, không trăm chín mươi lăm triệu, sáu trăm chín mươi chín nghìn, không trăm năm mươi bảy đồng) gồm: Tiền nợ gốc 1.908.150.000 đồng (một tỷ, chín trăm linh tám triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng); tiền lãi trong hạn 182.007.897 đồng (một trăm tám mươi hai triệu, không trăm linh bảy nghìn, tám trăm chín mươi bảy đồng); tiền lãi quá hạn 5.541.160 đồng (năm triệu, năm trăm bốn mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi đồng).
  2. Ngay sau khi ông Nguyễn Thanh V thanh toán xong số tiền còn phải thi hành cho Ngân hàng TMCP Đ thì Ngân hàng TMCP Đ có trách nhiệm thanh lý, giải chấp các hợp đồng liên quan đến số tiền nợ và hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh V bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp (nếu không còn thế chấp cho khoản vay nào khác), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0034/TC22 ngày 27/9/2022.

    Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Thanh V không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0034/TC22 ngày 27/9/2022) để thu hồi nợ.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng dài hạn số: K.0034/1322 ngày 27/9/2022.

  3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Thanh V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 73.913.981 đồng ( bảy mươi ba triệu, chín trăm mười ba nghìn, chín trăm tám mươi mốt đồng).
  4. Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 38.086.270 đồng (ba mươi tám triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn, hai trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020502 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Thanh V phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Thanh V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - VKSND TP HCM;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 154/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A tranh chấp hợp đồng tín dụng với Nguyễn Thanh V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger