|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 154/2024/HS-ST
Ngày: 16/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Bùi Quang Chính – Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Hiệp Phú, thành phố Thủ Đức.
2/ Ông Huỳnh Tiến Dũng – Nguyên cán bộ Phòng giáo dục đào tạo quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức)
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thanh P; Sinh năm 1995; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 204, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành K và bà Nguyễn Hoàng O; chưa có vợ con; Tiền sự: Không
Tiền án:
- - Bản án số 62/2016/HSST ngày 15/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thi hành án dân sự xong ngày 25/9/2020, ngày 06/12/2016, ngày 05/12/2016.
- - Bản án số 183/2016/HSST ngày 26/12/2016 của Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với Bản án số 62/2016/HSST ngày 15/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành hình phạt chung 03 năm 09 tháng tù. Thi hành xong phần dân sự ngày 27/9/2021.
- - Bản án số 61/2017/HSST ngày 22/09/2017 của Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tổng hợp với 03 năm 09 tháng tù của bản án số 183/2016/HSST ngày 26/12/2016 của Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 04 (bốn) năm 0 (chín) tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2020. Chấp hành thi hành án Dân sự ngày 27/8/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023.(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2/ Lưu Thị Anh T; sinh năm: 2002; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 63/3, tổ H ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Cư trú: số 52 ấp B, xã P, huyện N, Tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Hữu T1; và bà Lưu Thị Quốc A; không có chồng có 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 19/01/2023 bị Công an phường T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định số 4184/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000 đồng.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(bị cáo xin vắng mặt tại phiên tòa)
3/ Nguyễn Thanh Q; sinh năm: 1995; tại: Kiên Giang; Thường trú: ấp P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: không nơi cư trú; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Chí T2; và bà: Thị Kim Đ; chưa có vợ con;
Tiền án: Bản án phúc thẩm số 661/2015/HSPT ngày 05/11/2015 bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/7/2018. Chưa chấp hành xong một phần thi hành án Dân sự.
Tiền sự: Quyết định số 44/QĐ-TA ngày 22/04/2021 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 20/7/2022.
Nhân thân: Bản án số 99/2010/HSST ngày 15/07/2010 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2010. Chấp hành xong thi hành án Dân sự ngày 20/08/2010.
Bị cáo bị tạm giữ, bị tạm giam từ ngày 11/01/2023. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại:
1/Chị Chiêu Ngọc Ánh – sinh ngày 11/9/2007; Địa chỉ: số A, đường T, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: bà Lê Diệu T3 – sinh năm 1980 – Địa chỉ: 5 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
2/ Anh Lại Thế S – sinh năm: 1992; Địa chỉ: số I, đường N, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Diệu T3 – sinh năm 1980 – Địa chỉ: 5 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tất cả vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Từ ngày 07/12/2022 đến ngày 06/01/2023, Nguyễn Thanh P đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp 02 xe mô tô; Lưu Thị Anh T có hành vi cùng P trộm cắp 01 xe mô tô, sau khi trộm cắp, P đã nhờ Nguyễn Thanh Q đi bán 02 xe mô tô trên, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1:
Do không có tiền tiêu xài, khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/01/2023, Nguyễn Thanh P đi bộ vòng quanh khu vực phường T, thành phố T tìm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, khi P đi đến quán cà phê “The Blue”, địa chỉ số A, đường T, Khu phố B, phường T, thành phố T thì nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, biển số: 50N1-115.73 của chị Chiêu Ngọc Á (Sinh năm: 2007) dựng trước quán không người trông coi, P đi bộ đến gần xe mô tô, dùng 01 cây tua vít bằng kim loại đầu dẹp dài khoảng 25cm nạy, bẻ ổ khóa công tắc điện xe mô tô rồi leo lên, nổ máy đi về nhà trọ, địa chỉ số C, Đường A, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu. Tại đây, P gọi điện cho Nguyễn Thanh Q (chồng cũ của T), P nói vừa trộm được 01 xe mô tô và nhờ Q bán xe giúp, Q đồng ý và hẹn gặp P tại bãi đất trống dưới chân cầu M thuộc phường C, thành phố T. Khi đến nơi, Q nhận xe môtô biển số: 50N1-115.73 rồi điều khiển xe môtô đi đến quận T và bán cho 01 nam thanh niên (không nhớ tên, không rõ lai lịch) với giá 3.000.000 đồng. Sau khi bán xe, Q đón xe Grap đi đến nhà trọ số C gặp P. Tại đây, Q trừ 200.000 đồng tiền Quân mua sữa cho con của P, tiền công Q đi bán xe 500.000 đồng, tổng cộng là 700.000 đồng nên Q đưa P 2.300.000 đồng. Số tiền bán xe trộm cắp được, Q, P, T đã tiêu xài hết.
Kết luận định giá tài sản số 22 ngày 27/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha biển số: 50N1- 115.73 trị giá 10.000.000 đồng.
Vụ thứ 2:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 07/12/2022, do cần tiền tiêu xài nên P rủ T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý. P điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen (không rõ biển số, xe này P đã bán cho 01 người không quen biết) chở T đi vòng quanh phường T, thành phố T tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến trạm cân “Q”, 938/39, đường N, Khu phố C, phường T, P nhìn thấy xe 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số: 49K1-389.89 của anh Lại Thế S dựng trước phòng điều hành, không người trông coi, P dừng xe cách xe mô tô biển số: 49K1-389.89 khoảng 4m, T ngồi trên xe mô tô cảnh giới, P đi bộ đến dùng 01 cây tua vít bằng kim loại đầu dẹp dài khoảng 25cm nạy, bẻ ổ khóa công tắc điện xe môtô biển số 49K1-389.89 rồi leo lên, nổ máy chạy về nhà trọ cất giấu. Khoảng 18 giờ 30 phút một ngày tháng 12/2022 (không nhớ cụ thể ngày), P gọi điện cho Q nhờ Q bán xe môtô vừa trộm được, Q đồng ý và đón xe Grap đến nhà trọ của P để nhận xe môtô biển số: 49K1-389.89 sau đó Q điều khiển xe môtô đi đến quận T bán cho 01 nam thanh niên (không nhớ tên, không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng. Q trừ tiền công bán xe 300.000 đồng nên đưa P 1.500.000 đồng. Số tiền bán xe trộm cắp được, Q, P, T đã tiêu xài hết.
Kết luận định giá tài sản số 22 ngày 27/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số: 49K1-389-89 trị giá 9.100.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- + 01 quần Jean ngắn màu đen, 01 áo sơmi tay dài màu xanh có sọc trắng, (quần áo P mặc khi gây án ngày 06/01/2023) do P giao nộp.
- + 01 điện thoại Masstel màu vàng hồng (điện thoại Q dùng liên lạc bán xe trộm) do Q giao nộp.
- + 01 điện thoại Redmi màu xanh (điện thoại P dùng liên lạc bán xe ăn trộm) do P giao nộp.
- + 01 quần Jean ngắn màu xanh, 01 áo khoác tay dài màu đen, (quần áo T mặc khi gây án ngày 07/12/2022) do T giao nộp.
- + 02 USB chứa dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường ghi nhận vụ việc trộm ngày 06/01/2023 và ngày 07/12/2022.
*Vật chứng vụ án chưa thu hồi được gồm:
- + 01 xe hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ biển số: 50N1-115.73
- + 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số: 49K1-389.89
- + 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen (không rõ biển số) (P dùng làm phương tiện gây án).
- + 01 cây tua vít bằng kim loại đầu dẹp dài khoảng 25cm (P dùng làm công cụ gây án).
Về trách nhiệm dân sự:
- + Anh Lại T yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng
- + Chị Chiêu Ngọc Á yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng
[2] Bản Cáo trạng số 340/CT-VKSTPTĐ ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố:
Bị cáo Nguyễn Thanh P tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lưu Thị Anh T tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Thanh Q tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo phạm tội như cáo trạng đã truy tố nêu trên.
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh Q phạm tội 02 lần trở lên đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh Q có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lưu Thị Anh T lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hiện nay đang mang mới sinh con và đang nuôi con nhỏ nên xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Đối với những người đã mua xe môtô biển số: 49K1-389.89 và xe môtô biển số: 50N1-115.73, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục truy xét, xử lý sau.
Mức án đề nghị:
- 1/Bị cáo P từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù
- 2/Bị cáo Q từ: 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- 3/Bị cáo Thư từ: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.
Về phần vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Về phần dân sự: Buộc bị cáo P bồi thường cho chị Chiêu Ngọc Á và đại diện hợp pháp của chị Á số tiền 10.000.000 đồng. Buộc các bị cáo T và P liên đới bồi thường cho anh Lại Thế S số tiền 9.100.000 đồng.
Tịch thu tiền thu lợi bất chính của bị cáo Q.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa.
Các bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo sớm trở về với xã hội, có điều kiện làm lại cuộc đời và chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:
Từ ngày 07/12/2022 đến ngày 06/01/2023, Nguyễn Thanh P đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp 02 xe môtô biển số: 49K1-389.89 trị giá 9.100.000 đồng và xe môtô biển số: 50N1-115.73 trị giá 10.000.000 đồng (tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 19.100.000 đồng) của anh Lại Thế S và chị Chiêu Ngọc Á; Lưu Thị Anh T có hành vi cùng P trộm cắp 01 xe môtô biển số: 49K1-389.89 trị giá 9.100.000 đồng của anh Lại Thế S, sau khi trộm cắp, P đã nhờ Nguyễn Thanh Q đi bán 02 xe môtô trên. Mặc dù biết 02 xe môtô trên là tài sản do trộm cắp mà có nhưng Nguyễn Thanh Q vẫn đồng ý đi bán 02 xe môtô này để hưởng tiền công 800.000 đồng. Như vậy có cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Thanh P, Lưu Thị Anh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Thanh P có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lưu Thị Anh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thanh P, Lưu Thị Anh T là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, các bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, bị cáo Nguyễn Thanh Q đã tiếp tay, khuyến khích cho tội phạm đồng thời gây khó khăn cho Cơ quan điều tra trong việc điều tra, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, hành vi này trực tiếp xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng. Vì vậy cần xử lý các bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh Q phạm tội 02 lần trở lên đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh Q có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra các bị cáo P, Q, T còn là các đối tượng nghiện ma túy, bị cáo T và bị cáo Q có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Lưu Thị Anh T lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo T không có tình tiết tăng nặng.
Đối với những đối tượng đã mua xe môtô biển số: 50N1-115.73 và 01 xe môtô biển số 49K1-389.89, do chưa rõ lai lịch, đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra xác minh và sẽ xử lý sau.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
* Vật chứng vụ án:
- + 01 quần Jean ngắn màu đen, 01 áo sơmi tay dài màu xanh có sọc trắng, (quần áo P mặc khi gây án ngày 06/01/2023); 01 quần Jean ngắn màu xanh, 01 áo khoác tay dài màu đen, (quần áo T mặc khi gây án ngày 07/12/2022) là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 điện thoại Masstel màu vàng hồng là điện thoại Q dùng liên lạc bán xe trộm cắp, do Q giao nộp và 01 điện thoại Redmi màu xanh là điện thoại P dùng liên lạc bán xe trộm cắp do P giao nộp, đây là công cụ phạm tội, tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- + 02 USB chứa dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường ghi nhận vụ việc trộm ngày 06/01/2023 và ngày 07/12/2022 tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án
* Về trách nhiệm dân sự:
- + Chị Chiêu Ngọc A1 và anh Lại Thế S yêu cầu các bị cáo bồi thường trị giá mỗi chiếc xe bị chiếm đoạt là 10.000.000 đồng. 01 xe hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ biển số: 50N1-115.73 của chị Chiêu Ngọc Á theo định giá có giá trị 10.000.000 đồng và 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số: 49K1-389.89 của anh Lại Thế S có giá trị 9.100.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét hai chiếc xe này hiện chưa thu hồi được do đó yêu cầu của chị Á và anh S phù hợp quy định pháp luật tại Điều 589 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Vì vậy, buộc bị cáo P bồi thường cho chị Chiêu Ngọc Á và người đại diện hợp pháp của chị Á số tiền 10.000.000 đồng. Buộc các bị cáo P và T liên đới bồi thường cho anh Lại Thế S số tiền 10.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Q nộp lại tiền thu lợi bất chính, số tiền 800.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[5] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh P và Lưu Thị Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- - Áp dụng Điều 38, điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2023.
- - Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2023.
- - Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Lưu Thị Anh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- + Tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án: 02 USB chứa dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường ghi nhận vụ việc trộm ngày 06/01/2023 và ngày 07/12/2022.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Masstel màu vàng hồng và 01 điện thoại Redmi màu xanh.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean ngắn màu đen, 01 áo sơmi tay dài màu xanh có sọc trắng; 01 quần Jean ngắn màu xanh, 01 áo khoác tay dài màu đen.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q nộp 800.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- - Căn cứ điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P và bị cáo Lưu Thị Anh T liên đới bồi thường cho anh Lại Thế S số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), liên đới theo phần, mỗi phần 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P bồi thường cho chị Chiêu Ngọc Á và người đại diện hợp pháp của chị Á số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền gốc nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
(Vật chứng tại Phiếu nhập kho số NK23/195C ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
- - Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Thanh P phải nộp 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo Lưu Thị Anh T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- - Quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ph- Th- Qu- Trộm cap tải sản và tiêu thu tài sản
