Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 154/2023/HS-ST

Ngày: 15/11/2023.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hùng Tuấn và ông Nguyễn Huy Trụ.
  • -Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 161/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2023/QĐXXST-HS ngày 03/11/2023 đối với bị cáo:

La Thành L; Sinh ngày: 20/4/1997; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: La Văn C (đã chết); Con bà: La Thị Đ, sinh năm 1969. Trú tại thôn N, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị em ruột: Gia đình có 04 anh chị em, L là con thứ ba.

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2023 đến ngày 13/8/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố bị cáo, chuyển tạm giam. Lý do tạm giam: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý không có công ăn việc làm ổn định, nếu để bị cáo ở ngoài xã hội sẽ tiếp tục phạm tội, chính quyền địa phương không quản lý được.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 20 phút ngày 07/8/2023 tại khu vực thuộc tổ A, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra người này tự khai tên là La Thành L, sinh ngày 20/4/1997, HKTT: Thôn N, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình kiểm tra L tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước L đang mặc giao nộp cho Cơ quan Công an 01 gói có đặc điểm bên ngoài quấn bằng băng dính màu vàng, bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc, bên trong gói giấy có chứa chất bột cục màu trắng. L khai nhận đây là gói ma tuý heroin của L, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, niêm phong thu giữ gói giấy nói trên. Ngoài ra còn thu giữ của L: 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ có số imei 353598/02/000629/8 kèm 01 sim trong máy số 0352952799.

Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với La Thành L. Kết quả dương tính, L có sử dụng chất ma túy.

Ngày 07/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định chất bột cục màu trắng chứa bên trong gói giấy thu giữ của L. Kết luận giám định số 1046/KL-KYHS ngày 10/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh P:

“Chất bột cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,203 gam, loại heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”

Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ khi bắt quả tang, La Thành L khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07/8/2023 L một mình đi đến khu vực sông C, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy, tại đây L gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là K khoảng 35 tuổi, L hỏi và mua được 01 gói ma túy heroine có đặc điểm gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc bên trong chứa chất bột cục màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng dính màu vàng với giá 350.000 đồng, sau đó K đi đâu làm gì L không biết, còn L mang gói ma túy mua được ra khu vực vắng người gần đó mở gói ma túy ra lấy một phần sử dụng cho bản thân, phần còn lại gói lại như cũ rồi cất giấu trong người và bắt xe khách đi lên thành phố V để tìm việc làm. Khi đi đến khu vực bến xe V thì xuống xe, đi bộ được một đoạn thì có tổ công tác công an thành phố V kiểm tra, quá trình kiểm tra L tự giác giao nộp cho cơ quan Công an gói ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ cơ quan công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói ma túy vào bì giấy dán kín, thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 154/CT-VKS-VT, ngày 24 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo La Thành L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

*Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS của Bộ luật Hình sự:

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo La Thành L từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/8/2023.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động N màu đen đã cũ có số imei 353598/02/000629/8 do không liên quan đến việc phạm tội.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

  • +Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong dán kín của Phòng K1 - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,101 gam heroine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 phôi sim số 0352952799 do không còn giá trị sử dụng.

*Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo La Thành L phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và vật chứng cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện như sau:

Hồi 19 giờ 20 phút ngày 07/8/2023, tại tổ A, khu H, G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, La Thành L đang tàng trữ trái phép khối lượng 0,203 gam heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Do vậy, hành vi nêu trên của La Thành L đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

c) Heroine, C1, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng do lỗi cố ý. Hành vi nêu trên của bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo từ bỏ được ma túy và cải tạo thành một người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS, tịch thu 01 điện thoại di động N màu đen đã cũ có số imei 353598/02/000629/8 là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

-Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 túi niêm phong dán kín của Phòng K1 - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,101 gam heroine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định;
  • + 01 phôi sim số 0352952799 do không còn giá trị sử dụng.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

  • + Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L, ngày 25/8/2023 Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
  • + Đối với người đàn ông tên K đã bán ma túy cho L tại khu vực sông C, tỉnh Thái Nguyên, do L không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của L, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được là phù hợp.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

*Tuyên bố: Bị cáo La Thành L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo La Thành L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/8/2023.

*Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ có số imei 353598/02/000629/8 là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội.

*Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 túi niêm phong dán kín của Phòng K1 - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,101 gam heroine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định;
  • + 01 phôi sim số 0352952799 do không còn giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/10/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

*Về án phí: Buộc bị cáo La Thành L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND TP. Việt Trì;
  • - Công an TP. Việt Trì;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - UBND nơi b/c cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu AV, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 154/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: La Thành L tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger