Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 154/2024/HSST

Ngày: 14 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Tấn Đức

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lan – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 160/2024/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành H; sinh năm: 1985, tại: Khánh Hòa; trú tại: C đường C, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn An M, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị P (chết); vợ, con: Chưa có; nhân thân: Ngày 22/11/2007 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 2 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 9/4/2009; ngày 30/9/2010 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 4 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 9/10/2013; ngày 20/3/2015 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 3 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 28/8/2017; ngày 11/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 4 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 6/11/2021; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 22/8/2022 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 22/11/2023; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/02/2024 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 2000; trú tại: 5 đường K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1970; trú tại: 5 đường K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

2/ Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1992; trú tại: I đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/02/2024, Nguyễn Thành H đang đi bộ trên đường B, phường P, quận T thì gặp B (không rõ lai lịch) điều khiển xe gắn máy hiệu Honda AirBlade, biển số 59B1-180.54 đến rủ H đi tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, H đồng ý. B điều khiển xe chở H đi qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản trộm cắp, trên đường Đ đưa cho H bộ dụng cụ bẻ khóa (đoản) và thống nhất H sẽ trực tiếp trộm cắp tài sản, còn B đứng bên ngoài cảnh giới.

Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến trước nhà số I T, phường T, quận T thì B phát hiện xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu trắng-đen, biển số 50N1-652.17 của anh Nguyễn Hữu K dựng trước nhà, đầu xe hướng vào trong, có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi. B chỉ cho H thấy và kêu H lấy trộm thì H đồng ý. Lúc này, B dừng xe trước nhà số I T, phường T, quận T để H xuống xe đi bộ. H quan sát không thấy có người trông coi nên lén lút tiếp cận và dẫn lùi xe gắn máy hiệu H3 Wave RSX xuống lòng đường, cách vị trí ban đầu khoảng 5 mét, quay đầu xe hướng về phía B đứng cảnh giới. H định lên xe nổ máy chạy đi thì anh Nguyễn Thành H2 phát hiện truy hô và chạy bộ đuổi theo. Thấy bị phát hiện nên H bỏ xe máy vừa trộm được và chạy đến chỗ B để B chở tẩu thoát. Khi H đang bước lên xe (chân trái vẫn còn đứng dưới đất) thì anh H2 đuổi đến nắm vào đuôi xe giữ lại nên H dùng chân phải đạp vào phần bụng anh H2 để anh H2 buông xe ra, hậu quả làm anh H2 té ngã xuống đường bị thương tích. Ngay sau đó B điều khiển xe chở H tẩu thoát thì bị té xe. Các đối tượng bỏ lại xe gắn máy hiệu Honda AirBlade chạy bộ. H chạy bộ đến trước nhà số H B, phường G, quận T thì bị người dân bắt giữ, còn B chạy thoát.

Theo Kết luận định giá tài sản số 713/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, thời điểm định giá ngày 09/02/2024, kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen biển số: 50N1-652.17, số khung: 3827GY161224, số máy: JA38E0348544 trị giá 15.000.000 đồng.

Vật chứng:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen biển số: 50N1-652.17, số khung: 3827GY161224, số máy: JA38E0348544. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho ông T.

- 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu đen bạc, biển số 59B1-180.54, số khung: RLHJF2701BY007144, số máy: JF27E0709093, là xe của B chở H đi trộm cắp tài sản.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu xanh, có số Imei 1: 864927044683208/00 đã qua sử dụng, là điện thoại H sử dụng cá nhân.

- 01 quần ka ki dài màu đen; 01 áo thun có cổ màu nâu; 01 áo khoát dài tay màu đen; 01 nón lưỡi trai màu đen. 01 đôi giày có quai hậu màu xám đen; 01 nón bảo hiểm màu bạc, là trang phục H mặc khi đi trộm cắp tài sản.

- 01 bao da hình chữ nhật màu đen, ngang 5cm, dài 15cm; 02 thanh kim loại hình L dài khoảng 12cm; 01 thanh kim loại lục giác hình L dài khoàng 12cm; 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 06cm (01 đầu rỗng, 01 đầu tứ giác); 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 07cm (01 đầu lục giác, 01 đầu dẹp); là công cụ B đưa cho H dùng để trộm cắp tài sản.

Tại bản cáo trạng số 173/CT-VKSQ.TP ngày 19 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên quan điểm về tội danh và điều khoản mà cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H từ 04 năm đến 05 năm tù.

- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 09/02/2024, tại trước nhà số I đường T, phường T, quận T bị cáo Nguyễn Thành H cùng đối tượng tên B (không rõ lai lịch) trộm cắp xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu trắng – đen, biển số 50N1 – 652.17 của anh Nguyễn Hữu K thì bị phát hiện, H bỏ xe vừa trộm cắp được leo lên xe để đối tượng B chở tẩu thoát thì bị anh Nguyễn Thành H2 nắm vào đuôi xe giữ lại nên H dùng chân phải đạp vào phần bụng của anh H2 làm anh H2 té ngã xuống đường bị thương tích. Sau đó, B điều khiển xe chở H tẩu thoát thì bị quần chúng nhân dân đuổi theo, bắt giữ được H, riêng B chạy thoát.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại lén lút chiếm đoạt xe gắn máy có trị giá là 15.000.000 đồng. Ngoài ra, khi bị truy đuổi bị cáo H đã dùng chân đạp anh H2 nhằm mục đích tẩu thoát nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Thành H theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, vào ngày 22/11/2007 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 30/9/2010 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; ngày 20/3/2015 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 3 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 11/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 22/8/2022 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 22/11/2023, đây là tình tiết cần lưu ý khi lượng hình.

[5] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả cho bị hại và chủ sở hữu. Ngoài ra, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần trách nhiệm dân sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen biển số: 50N1-652.17, số khung: 3827GY161224, số máy: JA38E0348544, qua xác minh do ông Nguyễn Hữu T, địa chỉ: 5 K, phường A, quận B đứng tên sở hữu. Ông T trình bày mua xe trên vào năm 2018 với giá 28.000.000 đồng và đưa cho con trai là Nguyễn Hữu K sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho ông T nên Hội đồng xét xử không xử lý.

- 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu đen bạc, biển số 59B1-180.54, số khung: RLHJF2701BY007144, số máy: JF27E0709093 đã qua sử dụng, là xe của B chở H đi trộm cắp tài sản. Xác minh số khung, số máy trên thuộc về xe gắn máy hiệu Honda AirBlade, biển số: 68S1-019.29 do ông Bành Thanh T1, địa chỉ: A L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang đứng tên sở hữu. Qua làm việc, ông Bành Thanh T1 trình bày đã bán xe trên từ năm 2019 với giá 9.500.000 đồng qua mạng xã hội Facebook, khi bán chỉ làm giấy mua bán viết tay, không có công chứng, ông T1 không có thông tin của người mua xe. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người đang quản lý, sử dụng hợp pháp chiếc xe gắn máy nói trên, giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm người quản lý, sử dụng hợp pháp nếu không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với biển số: 59B1-180.54, qua xác minh là của xe gắn máy hiệu Vespa LX, số khung: RP8M66500DV013323, số máy: M669M5015368 do Nguyễn Thị Thanh T2, địa chỉ: 7 tổ C khu phố C, phường B, quận B (nay thuộc phường A, thành phố T) đứng tên sở hữu. Qua xác minh Nguyễn Thị Thanh T2 có Hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên nhưng đã chuyển đi nơi khác, đi đâu không rõ nên tịch thu tiêu hủy biển số trên theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu xanh, có số Imei 1: 864927044683208/00 đã qua sử dụng, là điện thoại H sử dụng cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo H theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 quần ka ki dài màu đen; 01 áo thun có cổ màu nâu; 01 áo khoát dài tay màu đen; 01 nón lưỡi trai màu đen. 01 đôi giày có quai hậu màu xám đen; 01 nón bảo hiểm màu bạc, là trang phục H mặc khi đi trộm cắp tài sản và 01 bao da hình chữ nhật màu đen, ngang 5cm, dài 15cm; 02 thanh kim loại hình L dài khoảng 12cm; 01 thanh kim loại lục giác hình L dài khoàng 12cm; 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 06cm (01 đầu rỗng, 01 đầu tứ giác); 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 07cm (01 đầu lục giác, 01 đầu dẹp) là công cụ B đưa cho H dùng để trộm cắp tài sản. Đây là những vật chứng không còn giá trị sử dụng và công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Đối với thương tích của anh Nguyễn Thanh H1 thì anh H1 có đơn không yêu cầu xử lý hình sự, từ chối giám định tỷ lệ thương tật và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Đối với đối tượng tên B do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý, khi nào điều tra làm rõ xử lý sau.

[10] Án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 02 năm 2024.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm người quản lý, sử dụng hợp pháp 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu đen bạc, số khung: RLHJF2701BY007144, số máy: JF27E-0709093, quá hạn mà không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) biển số 59B1-180.54; 01 (một) quần ka ki dài màu đen; 01 (một) áo thun có cổ màu nâu; 01 (một) áo khoát dài tay màu đen; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen; 01 (một) đôi giày có quai hậu màu xám đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu bạc và 01 (một) bao da hình chữ nhật màu đen, ngang 5cm, dài 15cm; 02 (hai) thanh kim loại hình L dài khoảng 12cm; 01 (một) thanh kim loại lục giác hình L dài khoàng 12cm; 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài khoảng 06cm (01 đầu rỗng, 01 đầu tứ giác); 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài khoảng 07cm (01 đầu lục giác, 01 đầu dẹp).

- Trả cho bị cáo H 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu xanh, có số Imei 1: 864927044683208/00.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 61/PNK ngày 05/3/2024 của Công an quận T).

[5] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

[7] Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKS Q.Tân Phú;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - THA quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu: hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Viết Hoàng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 154/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger