TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 154/2024/HNGĐ-ST Ngày 09/5/2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ và ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm1996; địa chỉ: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở Hàn Quốc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Hồ Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyên, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 26/9/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và thiếu tôn trọng nhau, cũng
năm 2015 là anh M đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc và từ đó anh M không quan tâm đến vợ con, không gửi tiền về để nuôi con. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục với nhau nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Văn M.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hà A, sinh ngày 04/10/2015. Hiện nay con chung đang ở với chị H. Ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành và không yên cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn M: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh M thông qua người thân là ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị K (bố, mẹ của anh Nguyễn Văn M) và niêm yết theo quy định, nhưng anh M vắng mặt, do đó không có ý kiến. Chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh M đang cư trú tại Hàn Quốc. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị K cung cấp địa chỉ, tin tức của anh M cũng như yêu cầu ông M1, bà K thông báo cho anh M biết để anh M có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Ngày 05/4/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại ông M1, bà K và được cung cấp thông tin như sau: Anh M hiện đang đi làm ăn ở Hàn Quốc, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh M ở đâu và anh M cũng biết việc chị H làm đơn ly hôn tại Tòa án, anh M đồng ý ly hôn. Đến nay, Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh M về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Hồ Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn M; giao con chung Nguyễn Hà A, sinh ngày 04/10/ 2015 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi); dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn M có hộ khẩu thường trú tại xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An hiện đang làm việc và sinh sống tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.
[1.2] Thủ tục hòa giải: Bị đơn anh Nguyễn Văn M hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh M vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
[1.3] Sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn M hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh M thông qua người thân là ông Nguyễn Văn M1 và bà Nguyễn Thị K (bố, mẹ của anh M) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Đồng thời yêu cầu anh M trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi của anh M. Tòa án đã tiến hành xác minh qua ông M1, bà K và được cung cấp thông tin như sau: anh M đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, nhưng anh M không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cung cấp cho ông, bà nên ông, bà không có địa chỉ của anh M cung cấp cho Tòa án. Nhưng ông, bà thông báo cho anh M biết việc chị H làm đơn ly hôn tại Tòa án thì anh M cũng đồng ý ly hôn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 23/4/2024, lần thứ hai vào ngày 09/5/2024 nhưng cả hai lần anh M đều vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh M vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/22/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Văn M kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 26/9/2014. Hôn nhân giữa chị H và anh M là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và thiếu tôn trọng nhau. Năm 2015, anh M đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc và từ đó anh M không quan tâm đến vợ con, không gửi tiền về để nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông qua ông Nguyễn Văn M1 và bà Nguyễn Thị K (bố, mẹ của anh M) thông báo cho anh M biết việc chị H yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, anh M đã được thông báo nhưng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Hồ Thị H và Nguyễn Văn M không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hồ Thị H cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
[3.2] Về con chung: Chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Văn M có 01 con chung tên Nguyễn Hà A, sinh ngày 04/10/ 2015. Hiện ccon chung đang do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, anh M đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu, anh M chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị H chưa yêu cầu giải quyết, anh Nguyễn Văn M cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[4] Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị H.
- Quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
- Con chung:
- Giao con chung Nguyễn Hà A, sinh ngày 04/10/2015, cho chị Hồ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Án phí: Buộc chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012727 ngày 14/3/2024.
- Quyền kháng cáo:
- Chị Hồ Thị H vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Anh Nguyễn Văn M đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 154/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 154/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình H M
