Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 154/2023/HS-ST

Ngày 03 - 11 - 2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Văn Thái.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền và bà Bùi Thị Kim Loan.
  • - Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2023/TLST - HS ngày 05 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Vi Văn G; tên gọi khác: không; sinh ngày 24/5/1997, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản Ban, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn L và bà Sầm Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
  2. Họ và tên: Lo Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 14/12/1994, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản Ban, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lo Văn T1 và bà Hà Thị L1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

* Người chứng kiến:

  • - Anh Nguyễn Thanh T2; sinh năm: 1962; nơi cư trú: Tổ19, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Văn H1; sinh năm: 1962; nơi cư trú: Tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: hồi 18 giờ 30 phút ngày 24/6/2023 tại khu vực thuộc tổ E, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố C bắt quả tang Vi Văn G và Lo Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ: trong túi quần bên trái G đang mặc 01 (một) gói giấy trắng, có vạch kẻ đen đều chứa chất bột màu trắng.

Kết luận giám định số 888/KL-KTHS, ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: mẫu vật thu giữ của Vi Văn G và Lo Văn T gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng 0,172 gam (không phẩy một bẩy hai gam). H2 lại 0,12 gam mẫu giám định.

Tại cơ quan điều tra, Vi Văn G và Lo Văn T khai nhận: ngày 22/6/2023, T và G là bạn cùng quê, đến C tìm việc làm. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên G và T đi tìm, G biết 1 người nam giới tên T3 (không rõ họ tên, địa chỉ, lái taxi, có số điện thoại 0902.033.xxx) để liên lạc mua ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 24/6/2023, G và T thống nhất góp mỗi người 100.000 đồng đưa G cầm, G đã mượn điện thoại người đi đường gọi cho T3, hẹn giao dịch ở khu vực cuối đường thanh niên C. Đến nơi, T đứng ngoài cảnh giới, G lên xe ô tô màu đen của T3 mua được 200.000 đồng ma túy, loại Heroine. G cất vào túi quần rồi cùng T đi bộ tìm chỗ để sử dụng, khoảng 30-40m thì bị Công an bắt quả và thu giữ vật chứng. Ngoài ra còn khai: G sử dụng ma túy từ đầu năm 2023, T sử dụng ma túy từ năm 2019, không thường xuyên, khoảng tháng 4/2023 sử dụng liên tục hơn.

Người chứng kiến anh Nguyễn Thanh T2 và anh Nguyễn Văn H1 có lời khai thể hiện việc các anh chứng kiến cơ quan Công an tiến hành các thủ tục tố tụng bắt quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng của Vi Văn G và Lo Văn T phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 132/CT-VKSCP ngày 04 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Vi Văn G, Lo Văn T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: xử phạt các bị cáo Vi Văn G và Lo Văn T, mỗi bị cáo từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 24/6/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 888/KL-KTHS hoàn lại ma túy, vỏ bao gói mẫu sau giám định;

Tại phiên tòa, các bị cáo Vi Văn G, Lo Văn T thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng, không oan, không sai. Tại lời nói sau cùng bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo G, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 24/6/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Lời khai của những người chứng kiến Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Văn H1. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng và giám định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với bản Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 24/6/2023 tại khu vực thuộc tổ E, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Vi Văn G và Lo Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,172 gam ma túy; loại Heroine, với mục đích để sử dụng, thì bị Công an thành phố C bắt quả tang. Vậy nên hành vi của các bị cáo Vi Văn G và Lo Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy Cáo trạng số 132/CT- VKSCP ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c, H3, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó là chất gây nghiện, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác như: cướp tài sản, trộm cắp tài sản ... Để thỏa mãn nhu cầu của mình, các bị cáo G và T đã dủ nhau cùng góp tiền để mua ma túy để sử dụng, các bị cáo đều là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; biết nhận thức được tác hại của ma túy, các quy định nghiêm cấm của Nhà nước nhưng chỉ vì thiếu ý thức rèn luyện tu dưỡng, sống buông thả nên đã bất chấp pháp luật, cố ý tàng trữ trái phép 0,172 gam chất ma túy, loại Heroine nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân; hành vi này còn tiếp tay cho đối tượng mua bán trái phép chất ma túy khác, góp phần làm gia tăng tội phạm, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần bị xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội và có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung tội phạm.

[4] Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án đồng phạm thấy rằng: Vi Văn G và Lo Văn T đồng phạm trong hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, các bị cáo cùng thống nhất góp tiền, cùng đi mua ma túy để sử dụng, trong đó bị cáo G là người trực tiếp giao dịch với T3 để mua ma túy, còn bị cáo T là người đứng ngoài để cảnh giới cho G mua ma túy nên các bị cáo có vai trò ngang nhau.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân các bị cáo là đối tượng thuộc hộ nghèo, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước để tự cải tạo mình cho tốt.

[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, là đối tượng thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với người đàn ông tên T3 theo thông tin G khai đã bán ma tuý cho G, T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh chủ phương tiện xe ô tô BKS 14E.00119 là Hoàng Văn T4, sinh năm 1980, trú tại tổ D, khu D, phường C, nhưng T4 không thừa nhận việc bán ma túy, sau đó vắng mặt tại nơi cư trú, G và T đều không nhận dạng được; tiến hành xác minh số điện thoại chưa có kết quả. Nên cơ quan điều tra quyết định tách hành vi tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Về xử lý vật chứng bị thu giữ: Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 888/KL-KTHS ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Q là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vỏ bao gói kèm theo không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy;

[8] Các bị cáo G, T đều là đối tượng hộ nghèo (có giấy chứng nhận hộ nghèo số 150/GCN-HN.HCN ngày 01/01/2022 của UBND xã C) và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí, nên thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: các bị cáo Vi Văn G, Lo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: các bị cáo Vi Văn G, Lo Văn T mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 24/6/2023.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 888/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q; còn nguyên dấu niêm phong. (Tình trạng của những vật chứng, tài sản nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/BB-THA ngày 12/10/2023 giữa Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Vi Văn G và Lo Văn T.

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười năm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND TP Cẩm Phả;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Cẩm Phả;
  • - Cơ quan THAHS TP Cẩm Phả;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh QN;
  • - Chi cục THADS. TP Cẩm Phả;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu TA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 154/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Văn G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger