Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 154/2024/DS-ST

Ngày: 02 - 5 - 2024

Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích – Ông Đặng Hữu Tấn
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng H. Địa chỉ trụ sở: Tầng D, Tòa nhà N, đường H, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
  • Địa chỉ chi nhánh: Số A, đường H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc C – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng H.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoàng M, chức vụ: Cán bộ Tín dụng tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền số 90/2024/GUQ-CNAG, ngày 06/02/2024. Có đơn xin vắng mặt
  • - Bị đơn:
  • Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970; Vắng mặt
  • Bà Huỳnh Thị Thúy D sinh năm 1979. Vắng mặt
  • Cùng cư trú: Số A, đường L, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • - Nguyên đơn ngân hàng H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

    Ngày 26 tháng 08 năm 2016, ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D có lập và ký tên trên đơn xin vay và cam kết trả nợ gửi đến Ngân hàng H Chi nhánh A (viết tắt là ngân hàng). Ngày 06 tháng 09 năm 2016, ông Nguyễn Văn T và Ngân hàng H Chi nhánh A ký kết hợp đồng tín dụng số TD07900046 căn cứ theo đơn xin vay và cam kết trả nợ của ông T, với nội dung HĐTD như sau: Số tiền vay: 160.000.000 đồng; Mục đích sử dụng tiền vay: Mua sắm vật dụng, sinh hoạt gia đình; Thời hạn vay: 60 tháng (từ 06/09/2016 đến 06/09/2021); M1 lãi suất cho vay: 0,92%/tháng (11,04% năm); Số tiền cho vay được trả nợ thành 60 kỳ hạn. Trả nợ gốc và lãi vào ngày 10 của mỗi tháng. Số tiền gốc mỗi kỳ hạn là 2.700.000 đồng, số tiền gốc kỳ hạn cuối cùng là: 700.000 đồng.

    - Tính đến ngày 05/02/2024, tổng số tiền nợ vay là 177.498.198 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 89.303.615 đồng, tiền lãi là 88.194.583 đồng. Khoản vay của ông T đã chuyển sang quá hạn vào ngày 24/11/2017 và áp dụng lãi suất quá hạn 16,56%/năm. Đến tháng 11/2018 thì ông T đã nghỉ việc và không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng tín dụng dẫn đến trễ hạn, quá hạn, nợ xấu.

    - Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay ông Nguyễn Văn T không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng H theo quy định. Ông T đã vi phạm các cam kết, thỏa thuận trong hồ sơ vay vốn. Sau nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở đến nay ông T vẫn không thực hiện đúng như đã cam kết.

  • Do đó, Ngân hàng H yêu cầu xem xét giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị Thúy D phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tổng số tiền vay nêu trên và lãi phát sinh thực tế theo mức lãi suất Ngân hàng quy định cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.

  • Án phí dân sự: theo quy định pháp luật.

  • Theo đơn xin vắng mặt và bảng kê lãi ngày 02/5/2024: ngân hàng xin xét xử vắng mặt và yêu cầu ông T, bà D trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 02/5/2024: 181.347.306 đồng (một trăm tám mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm lẻ sáu đồng), trong đó vốn vay: 89.303.615 đồng (tám mươi chín triệu, ba trăm lẻ ba ngàn, sáu trăm mười lăm đồng) và tiền lãi: 92.043.691 đồng (chín mươi hai triệu, không trăm bốn mươi ba ngàn, sáu trăm chín mươi mốt đồng).

  • - Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D không gửi tự khai trình bày ý kiến và vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng H khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D cư trú tại phường M, thành phố L nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Đơn xin vay và cam kết trả nợ ngày 26/8/2016; Hợp đồng tín dụng số TD07900046 ngày 06/9/2016 có ghi rõ địa chỉ của ông T, bà D là số A, đường L, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Đồng thời, ông bà có cung cấp giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu kèm theo hồ sơ vay để chứng minh địa chỉ đăng ký thường trú là địa chỉ được ghi tại hợp đồng. Khi tống đạt văn bản tố tụng, ông T, bà D vắng mặt căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017, Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành tống đạt bằng thủ tục niêm yết và tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt; ông T, bà D vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ngân hàng và ông T, bà D là phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hợp đồng tín dụng: Ngân hàng H yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền còn nợ đối với khoản vay của Hợp đồng tín dụng số TD07900046 ngày 06/9/2016.

[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, bà D để ông bà thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu và tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn. Tuy nhiên cho đến nay ông bà vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông bà tự từ bỏ quyền lợi của bản thân cũng như không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

[2.3] Căn cứ Đơn xin vay và cam kết trả nợ ngày 26/8/2016; Hợp đồng tín dụng số TD07900046 ngày 06/9/2016; phụ lục hợp đồng; giấy lĩnh tiền mặt và giấy hạch toán, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định giữa ngân hàng H và ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D có xác lập hợp đồng tín dụng. Việc xác lập hợp đồng này hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với qui định pháp luật do đó phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.

[2.4] Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T, bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thoả thuận của hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã gửi các thông báo chuyển nợ quá hạn, thông báo trả nợ cho ông T, nhiều lần làm việc, theo đó ông T có cam kết trả nợ ngày 27/7/2017 nhưng cho đến nay vẫn không thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng H: Buộc ông T và bà D cùng có

nghĩa vụ liên đới trả cho ngân hàng H số tiền tính đến ngày 02/5/2024: 181.347.306 đồng (một trăm tám mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm lẻ sáu đồng). Ông T và bà D cùng nghĩa vụ liên đới trả cho ngân hàng tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 03/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ của hợp đồng.

[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng H được chấp nhận do đó nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại tạm ứng án phí đã nộp. Ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2017;
  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng H.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ngân hàng H số tiền tính đến ngày 02/5/2024 là 181.347.306 đồng (một trăm tám mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm lẻ sáu đồng), trong đó vốn vay: 89.303.615 đồng (tám mươi chín triệu, ba trăm lẻ ba ngàn, sáu trăm mười lăm đồng); tiền lãi: 92.043.691 đồng (chín mươi hai triệu, không trăm bốn mươi ba ngàn, sáu trăm chín mươi mốt đồng).

Ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Thúy D cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ngân hàng H tiền lãi, phí phát sinh tính từ ngày 03/5/2024 với mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số TD07900046 ngày 06/9/2016 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ của hợp đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị Thúy D cùng phải chịu 9.067.000 đồng (chín triệu, không trăm sáu mươi bảy ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng H số tiền 4.437.455 đồng (bốn triệu, bốn trăm ba mươi bảy ngàn, bốn trăm năm mươi lăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001614 ngày 27/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Ngân hàng H và ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị Thúy D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND.TP.Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP.Long Xuyên;
  • - Văn phòng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ ./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 154/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger