Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số:154/2025/HSST
Ngày: 12/6/2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền

Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12/6/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2025/TLST-HS ngày 22/05/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/QĐXXST- HS ngày 02/6/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1986; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện tại: Ngách H L, tổ E, phường P, quận N, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông:Lê Văn C1, sinh năm 1955; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thị G, sinh năm 1992; Con: Có 02 con (lớn sinh năm: 2020; nhỏ sinh năm: 2023); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 211/2018/HS-ST ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP . xử phạt Lê Văn C 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 31/8/2023.

Bị cáo đầu thú ngày 07/3/2025; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/03/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an T3. Có mặt.

Người bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị Vân C2, sinh năm 1980; HKTT: Số A X, tổ A, D, phường Q, quận C, TP .; Chỗ ở hiện tại: Số B, ngách D, ngõ A Cầu G, phường Q, quận C, TP .. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001; HKTT: Xóm D, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định. Chỗ ở hiện tại: số 38, nghách 58, ngõ A T, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt.
  3. Anh Bạch Ngọc P, sinh năm 1986; HKTT: Tổ F, phường M, quận H, TP .. Chỗ ở hiện tại: số D V, phường M, quận H, Hà Nội. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nghiêm Thị T2, sinh năm 1980; HKTT: Tổ A, phường P, quận N, TP .. Vắng mặt.
  2. Bà Nghiêm Thị Đ, sinh năm 1960; HKTT: Tổ dân phố D, phường P, quận N, TP .. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn C cùng gia đình thuê nhà trọ tại địa chỉ: ngách H L, tổ E, phường P, quận N, TP . của chị Nghiêm Thị T2, sinh năm 1980; HKTT: Tổ A, phường P, quận N, TP .. Do cần tiền chi tiêu cá nhân, C nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền. Thực hiện ý định trên, từ ngày 05/3/2025 đến ngày 07/3/2025, C đã 03 lần trộm cắp xe máy của người khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 05/3/2025, Lê Văn C thuê xe ôm đi từ nhà trọ đến khu vực phường Y, quận C, TP . để xem có ai sơ hở trong quản lý tài sản thì thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến nơi, C xuống xe, một mình đi bộ lang thang để quan sát. Khi C đi đến khu vực phía trước nhà số C, ngõ H T, phường Y, quận C, TP ., C thấy nhà này không khóa cửa, tại tầng 1 của nhà dựng nhiều xe máy, không có người trông coi, C đi vào bên trong thì thấy có 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision màu xanh nâu BKS: 29P1-662.99 không khóa cổ, là tài sản của chị Nguyễn Thị Vân C2, sinh năm 1980; HKTT: Số A X, tổ A, D, phường Q, quận C, TP .; Chỗ ở hiện tại: Số B, ngách D, ngõ A Cầu G, phường Q, quận C, TP .. Chính lén lút dắt chiếc xe máy trên ra ngoài rồi dắt bộ về cất giấu tại khu vực để xe chung ở phía trước nhà trọ của mình. Trên đường về, C tháo biển kiểm soát của chiếc xe máy trên vứt đi (C không nhớ rõ vị trí cụ thể).

Lần thứ hai: Khoảng 04 giờ 00 ngày 07/3/2025, Lê Văn C mang theo người 01 (một) chiếc kéo (có sẵn ở nhà trọ) đi bộ từ nhà trọ ra đầu đường L, quận N, TP . rồi thuê xe ôm đi đến khu vực gần hồ T, xã T, huyện T, TP .. Đến nơi, C xuống xe, một mình đi bộ vào trong làng T để xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực phía trước nhà số C, ngách E, ngõ A T, huyện T, TP ., C quan sát thấy cửa nhà được khóa bằng khóa từ, nhìn vào bên trong tầng 1 có 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS 18G1-376.25 đang cắm chìa khóa ở ổ khóa điện, là tài sản của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001; HKTT: Xóm D, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định. Chính trèo lên cửa, dùng chiếc kéo mang theo cắt đứt dây điện của khóa từ để ngắt điện, mở khóa cửa. Sau đó, C lén lút mở cửa đi vào, dắt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS 18G1-376.25 ra ngoài rồi điều khiển chiếc xe máy trên để đi về nhà trọ của mình. Trên đường đi, C đã vứt chiếc kéo ở dọc đường (do trời tối nên C không nhớ rõ vị trí cụ thể).

Lần thứ ba: Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày 07/3/2025, khi C điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS 18G1-376.25 đi qua khu vực phía trước nhà số D V, phường M, quận H, TP ., C phát hiện thấy có 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Evo màu đen BKS 29MĐ2-770.85 đang dựng ở vỉa hè trước cửa nhà, là tài sản của anh Bạch Ngọc P, sinh năm 1986; HKTT: Tổ F, phường M, quận H, TP ., xe có khóa bánh trước bằng khóa chữ U nhưng chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát xung quanh thấy không có ai, C dựng xe máy Honda Wave màu trắng BKS 18G1-376.25 ở khu vực lòng đường trước cửa nhà số D V rồi một mình đi bộ đến gần chiếc xe máy điện Vinfast Evo màu đen BKS 29MĐ2-770.85. Chính lấy chìa khóa xe máy điện đang cắm ở ổ khóa để mở khóa chữ U cất vào trong cốp xe rồi điều khiển chiếc xe máy điện trên đi đến khu đất trống cách đó khoảng 300 mét để cất giấu. Sau đó, C đi bộ quay lại trước cửa nhà số D V để lấy chiếc xe máy Honda Wave màu trắng BKS: 18G1-376.25, tiếp tục điều khiển chiếc xe trên về cất giấu tại khu vực để xe chung ở phía trước nhà trọ của mình. Sau khi cất xong chiếc xe máy trên, C đi ra đường và thuê xe ôm để quay lại khu đất trống nơi cất giấu chiếc xe máy điện Vinfast Evo màu đen BKS 29MĐ2-770.85. Đến nơi, C xuống xe, một mình đi vào lấy chiếc xe máy điện Vinfast Evo màu đen BKS: 29MĐ2-770.85 điều khiển chiếc xe trên mang về cất giấu ở bãi gửi xe của bà Nghiêm Thị Đ, sinh năm 1960; HKTT: Tổ dân phố D, phường P, quận N, TP ..

Ngày 07/3/2025, anh Bạch Ngọc P, anh Nguyễn Văn T1 và chị Nguyễn Thị Vân C2 đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an phường M, quận H, TP . (bút lục 37 – 38; 146 – 147; 158- 159).

Cùng ngày 07/3/2025, Lê Văn C đã đến Công an phường M, quận H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tự nguyện giao nộp các tài sản trộm cắp được (bút lục 52 – 53; 61 – 62).

* Vật chứng đã thu giữ:

  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh nâu, không gắn biển kiểm soát, số máy: JF66E0378721, số khung: RLHJF5810GY396018 (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 18G1-376.25, số máy: JA39E0790326, số khung: RLHJA3906HY810171 (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Evo 200 Lite màu đen, BKS: 29MĐ2-770.85, số máy: VFHCEAE230714D0031, số khung: RPXP2LIILVPE031224 (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) khóa chữ U bằng kim loại nhãn hiệu AMIMAO (đã qua sử dụng).

Ngày 07/3/2025 và ngày 11/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an T3 Yêu cầu định giá tài sản số 6790 và số 7286 để định giá đối với các tài sản nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 23 ngày 08/3/2025 và số 25 ngày 11/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H (bút lục A – 17; 22 – 23), kết luận:

“- Giá trị tài sản 01 (một) xe máy điện Vinfast Evo màu đen BKS: MÐ-770.85, số khu qua sử dụng (đã thu được tang vật) là 10.000.000 đồng.

- Giá trị tài sản 01 (một) khóa chữ U bằng kim loại nhãn hiệu AMIMAO, đã qua sử dụng (đã thu được tang vật) là 30.000 đồng.”

“- Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc BKS: 18G1-376.25, số khung: RLHJA3906HY810171, số máy: JA39E0790326 (xe đã qua sử dụng, đã thu được tang vật) là 12.000.000 đồng.

- Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh nâu, không đeo BKS, số khung: RLHJF5810GY396018, số máy: JF66E0378721 (xe đã qua sử dụng, đã thu được tang vật) là 19.080.000 đồng.”

Như vậy, tổng giá trị tài sản Lê Văn C đã chiếm đoạt trong vụ án là: 41.110.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại anh Bạch Ngọc P, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị Vân C2 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội (bút lục 120 – 130; 136 – 143). Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 120/CT-VKS-HĐ ngày 21/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Lê Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, nói lời sau cùng bị cáo xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu tại phiên tòa:

Giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 120/CT-VKS-HĐ ngày 21/05/2025. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn C, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 27 tháng đến 33 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2025.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại anh Bạch Ngọc P, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị Vân C2 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu, đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về thẩm quyền, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án:

Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp nên là chứng cứ trong vụ án.

[2]. Về sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản xác định hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 05/3/2025 đến ngày 07/3/2025, Lê Văn C đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác tại các địa bàn quận C, huyện T, quận H, Thành phố Hà Nội, cụ thể: Ngày 05/3/2025, C lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Vân C2 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh nâu, BKS: 29P1-662.99, đã qua sử dụng, trị giá 19.080.000 đồng. Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 07/3/2025, C lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T1 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 18G1-376.25, đã qua sử dụng, trị giá 12.000.000 đồng. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, C chiếm đoạt của anh Bạch Ngọc P 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Evo 200 Lite màu đen, BKS: 29MĐ2-770.85, đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng và 01 (một) khóa chữ U bằng kim loại nhãn hiệu AMIMAO, đã qua sử dụng, trị giá 30.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lê Văn C đã chiếm đoạt trong vụ án là: 41.110.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 173 Bộ luật Hình sự, tội “Trộm cắp tài sản” quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Lê Văn C về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

[5].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, cụ thể:

  • - Về nhân thân: Bản án số 211/2018/HS-ST ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP . xử phạt Lê Văn C 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, về tội Trộm cắp tài sản. Như vậy, bị cáo C đã bị Tòa án xét xử cũng về tội trộm cắp tài sản, tuy đã được xoá án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân xấu. Bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý phạm tội.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 03 (ba) lần thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản bị chiếm đoạt mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng) thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đầu thú, tự nguyện giao nộp tài sản đã trộm cắp để trả lại cho người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung :

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền. Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định, 03 (ba) chiếc xe máy và 01 (một) chiếc khóa chữ U nêu trên là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Bạch Ngọc P, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị Vân C2. Ngày 11/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an T3 đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 338 (bút lục 27) với hình thức trả lại các tài sản trên cho các bị hại, là có căn cứ.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại anh Bạch Ngọc P, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị Vân C2 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu, đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.

[9]. Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với 01 (một) biển kiểm soát của chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision màu xanh nâu của chị Nguyễn Thị Vân C2: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe máy Honda Vision nêu trên mang biển kiểm soát số: 29P1-662.99. Lê Văn C khai sau khi trộm cắp được chiếc xe máy trên C đã tháo, vứt bỏ biển kiểm soát của chiếc xe ở trên đường về nhà trọ, C không nhớ vị trí cụ thể. Ngày 16/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an T3 đã ra Quyết định truy tìm vật số A4728 đối với 01 (một) biển kiểm soát xe máy số: 29P1-662.99 (bút lục 35) nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, có kết quả thì xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) chiếc kéo được Lê Văn C sử dụng làm công cụ để trộm cắp tài sản: Chính khai đó là chiếc kéo có sẵn ở nhà trọ của mình, không có đặc điểm gì riêng biệt, sau khi trộm cắp được xe máy, C đã vứt chiếc kéo trên ở trên đường về, C không nhớ vị trí cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy tìm.

Đối với chị Nghiêm Thị T2 là chủ khu nhà trọ và bà Nghiêm Thị Đ là chủ bãi gửi xe nơi Lê Văn C cất giấu xe máy sau khi trộm cắp được: Chị T2, bà Đ đều không biết việc C cất giấu xe máy do trộm cắp mà có tại khu vực thuộc sở hữu, quản lý của mình nên không đề cập xử lý. Cơ quan điều tra đã tiến hành nhắc nhở đối với chị T2 và bà Đ là thỏa đáng.

[10]. Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
    • - Các Điều: 45,46,136, 260, 268, 269, 299, 326, 327, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
    • - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
    • Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/03/2025.
  3. Án phí: Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Lê Văn C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

THÀNH VIÊN
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÀNH VIÊN
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Đình Hiền Nguyễn Mạnh Tuấn Nguyễn Thị Bích Liên

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người bị hại, người liên quan;
  • -TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông, TP. Hà Nội;
  • -VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội.
  • -Chi cục THADS quận Hà Đông, TP. Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Tuấn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2025/HSST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 154/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA.154.Lê Văn Chính.12.6.25
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger