|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 154/2025/HNGĐ-ST
Ngày 09/6/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thuỷ.
2. Ông Đặng Thiên Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 09/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2025/TB-TLST ngày 01/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2025/QÐST-HNGĐ ngày 09/5/2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: chị Trần Thị O, sinh năm: 1998 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Trại Mới, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở: Đài Loan
+Người đại diện theo ủy quyền nộp, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án của chị Trần Thị O là anh Đặng Hồng S, sinh năm: 2001; địa chỉ: số I T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: anh Đặng Công N, sinh năm: 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang lao động tại nước ngoài)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Quang T, sinh năm: 1963 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 23/02/2025, nguyên đơn là chị Trần Thị O trình bày:
Về hôn nhân: chị và anh Đặng Công N được tự do tìm hiểu và tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh N làm dâu và vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng tháng 3/2018 anh N sang Đài Loan làm việc và đến tháng 9/2021 chị cũng xuất cảnh sang Đài Loan để lao động. Cũng từ đó hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung. Mặc dù hai vợ chồng cùng sinh sống và làm việc tại Đài Loan nhưng mỗi người một nơi không gặp nhau, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay và ít khi liên lạc với nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Công N.
Về con chung: chị và anh N có 01 con chung là cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018. Hiện nay, cháu đang ở với ông bà nội là ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1. Ly hôn chị đề nghi giao con chung cho anh N nuôi dưỡng, trong thời gian anh N ở nước ngoài thì giao cháu K cho ông T và bà N1 là ông bà nội của cháu K nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con đối với cháu K là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ khi xét xử sơ thẩm đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Hiện nay, chị đang lao động tại nước ngoài nên không về tham gia phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án “tranh chấp Hôn nhân gia đình” giữa chị và anh N được. Vì vậy, chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh N.
Chị cũng ủy quyền cho anh Đặng Hồng S, sinh năm: 2001 có địa chỉ: số I T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội thay mặt chị nộp đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí và nhận các văn bản tố tụng, nhận bản án, trích lục của Tòa án giao cho chị và thông báo lại cho chị biết.
Bị đơn là anh Đặng Công N hiện đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh N, đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh N.
Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 là bố mẹ đẻ anh N: ông T và bà N1 trình bày ông bà là bố mẹ đẻ của anh Đặng Công N. Anh N hiện nay không có mặt tại địa phương, anh N đang làm việc tại Đài Loan. Anh N ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình qua điện thoại, nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể. Về địa chỉ của anh N ở nước ngoài thì ông bà không được biết nên không cung cấp cho Tòa án án được. Chị O có đơn xin ly hôn với anh N thì quan điểm của anh N là đồng ý ly hôn với chị O vì hai vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Vợ chồng anh N và chị O có
01 con chung là cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018. Hiện nay, cháu K đang ở với anh N. Ly hôn anh N đồng ý nhận nuôi dưỡng con chung và yêu cầu chị O phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ khi xét xử sơ thẩm đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 trình bày: ông bà là ông bà nội của cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018. Vợ chồng anh N chị O đều đang ở nước ngoài, từ nhỏ đến nay cháu K vẫn đang ở với ông bà. Anh N vẫn thường xuyên quan tâm và gọi điện hỏi han, chu cấp cho cháu. Khi Tòa án gải quyết việc ly hôn của vợ chồng anh N, chị O, ông bà đề nghị Tòa án giao cháu K cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và ông bà đồng ý nhận nuôi dưỡng và chăm sóc cháu K trong thời gian anh N ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi cháu ông bà đề nghị chị O phải cấp dưỡng nuôi cháu K là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ khi xét xử sơ thẩm đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có.
Tòa án đã làm việc với cháu Đặng Bảo K cháu trình bày: cháu là con của bố Đặng Công N và mẹ Trần Thị O, hiện nay cháu đang ở cùng với bố là Đặng Công N và ông bà nội. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với bố và ông bà nội.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị O, ông T, bà N1 xin vắng mặt giữ nguyên ý kiến. Anh Đặng Công N vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trình bày gì.
Thẩm phán thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị O, ông T bà N1; Biên bản biên bản làm việc của cháu K và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu:
-Việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83, Điều 104; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị O. Xử cho chị Trần Thị O được ly hôn anh Đặng Công N.
Về con chung: giao cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018 cho anh Đặng Công N nuôi dưỡng, chăm sóc. Nhưng tạm giao cháu Đặng Bảo K cho ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 nuôi dưỡng, chăm sóc trong thời gian anh Đặng Công N ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con: buộc chị Trần Thị O phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Đặng Bảo K cho anh N là 2.000.000đ/1 tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Trần Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: chị Trần Thị O là nguyên đơn, ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị Trần Thị O và ông Đặng Quang T, bà Nguyễn Thị N1.
Đối với bị đơn anh Đặng Công N vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 là bố mẹ đẻ của anh N để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông T bà N1 thông báo cho anh N biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” giữa chị Trần Thị O và anh Đặng Công N; yêu cầu anh N viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu ông T bà N1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh N ở nước ngoài. Ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 trình bày: anh N vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Tuy nhiên, ông T, bà N1 vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh N cho Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình, xét xử vắng mặt bị đơn anh Đặng Công N theo thủ tục chung.
[2]. Về thẩm quyền: chị Trần Thị O là nguyên đơn có đơn xin ly anh Đặng Công N, anh N hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 8459/QLXNC-P3 v/v cung cấp thông tin xuất, nhập cảnh ngày 18/4/2025 của Cục Q -Bộ C), thì anh N đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 19/3/2018 hiện chưa có thông tin nhập cảnh Việt Nam. Như vậy, đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về con chung” có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về hôn nhân: chị Trần Thị O và anh Đặng Công N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn anh N. Xem xét đơn khởi kiện của chị O, Hội đồng xét xử thấy chị O xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống chị và anh N đã không còn liên lạc gì với nhau. Hiện nay, chị O và anh N đều đang ở nước ngoài nhưng vợ chồng không còn liên lạc và quan tâm gì tới nhau nữa, chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị O. Xử cho chị O được ly hôn anh N.
[4]. Về con chung: chị Trần Thị O và anh Đặng Công N có 01 con chung là cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018. Hiện nay, cháu K đang ở với anh N và ông bà nội. Ly hôn chị O đề nghị giao cháu K cho ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 (là ông bà nội) nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/1 tháng, kể từ khi xét xử sơ thẩm đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị O về yêu cầu nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy: từ khi chị O và anh N đi nước ngoài lao động đến nay thì cháu Đặng Bảo K vẫn ở cùng với ông bà nội (bố mẹ anh N) cháu được ông bà chăm sóc, phát triển bình thường, được đi học đầy đủ, anh N vẫn thường xuyên gửi tiền về cho bố mẹ anh để nuôi dưỡng và chăm sóc cháu, thường xuyên gọi điện về động viên thăm hỏi cháu và cháu K cũng có nguyện vọng được ở với bố. Do đó, cần giao cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018 cho anh Đặng Công N nuôi dưỡng là có căn cứ phù hợp với điều kiện thực tế và tránh xáo trộn cuộc sống bình thường của cháu.
Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị O về con chung. Giao con chung là cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018 cho anh Đặng Công N là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung. Tuy nhiên, hiện nay anh Đặng Công N đang đi lao động tại nước ngoài nên cần tạm giao cho ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 chăm sóc cháu K trong thời gian anh N ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị O tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho anh Đặng Công N là 2.000.000 đồng/1 tháng, ông T bà N1 cũng yêu cầu chị O phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N 2.000.000đồng/ 1 tháng. Nên buộc chị Trần Thị O
phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018 cho anh N là 2.000.000đ/1 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.
Sau khi ly hôn chị Trần Thị O có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị O thực hiện quyền này.
Trường hợp chị O về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[5]. Về tài sản, công nợ: chị Trần Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: chị Trần Thị O phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang, chị O còn phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, Điều 104; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: cho chị Trần Thị O được ly hôn với anh Đặng Công N.
- Về con chung: giao cho anh Đặng Công N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Đặng Bảo K cho ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu K trong thời gian anh Đặng Công N ở nước ngoài.
Chị Trần Thị O có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị O thực hiện quyền này.
- Về cấp dưỡng nuôi con: buộc chị Trần Thị O cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Đặng Bảo K, sinh ngày 22/02/2018 cho anh Đặng Công N là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/1 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/6/2025) đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.
- Về án phí: Chị Trần Thị O phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000485 ngày 01/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Chị Trần Thị O còn phải nộp số tiền 300.000đồng.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Chị Trần Thị O và anh Đặng Công N hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị N1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
Bản án số 154/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 154/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 09/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2025/TB-TLST ngày 01/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2024, giữa các đương sự: -Nguyên đơn: chị Trần Thị O, sinh năm: 1998 (vắng mặt) Nơi cư trú: thôn Trại Mới, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Đài Loan +Người đại diện theo ủy quyền nộp, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án của chị Trần Thị O là anh Đặng Hồng S, sinh năm: 2001; địa chỉ: số I T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. - Bị đơn: anh Đặng Công N, sinh năm: 1992 (vắng mặt) Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang lao động tại nước ngoài)
