Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 154/2025/DS-ST

Ngày: 15 - 4 - 2025

V/v Tranh chấp đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Út

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thanh Xuân

Ông Hồ Văn Cảm

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hỷ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 13 tháng 02, ngày 11 tháng 3; ngày 08 và ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 801/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp đòi tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐ-ST ngày 15/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 1438/2025/QĐ-ST ngày 13/02/2025; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 3889/2025/QĐ-ST ngày 11/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Kuo Chien H, sinh năm 1954. Địa chỉ: N.60 C, T, Yunlin C, Đài Loan

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn H1, sinh năm 1987; Địa chỉ: B Quốc lộ A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 012997 tại Văn phòng C1) (có mặt tại phiên tòa ngày 11/3/2025, xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 08 và ngày 15/4/2025).

- Bị đơn: Ông Diệp Xuân K, sinh năm 1958 (vắng mặt) và bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1966 (vắng mặt); Địa chỉ thường trú: C2 (B Đ), Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ tạm trú: 76/10/7/5 N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị H2, sinh năm 1981; Địa chỉ: D L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Kuo C H có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Văn H1 trình bày:

Ông Kuo Chien H– là người có quốc tịch nước ngoài, không đủ điều kiện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên sau khi mua đất, ông Kuo Chien H3 nhờ vợ chồng ông Diệp Xuân K1 Trần Thị Ngọc T– có quốc tịch Việt nam (là bạn nguyên đơn) đứng tên giùm trên 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:

  • Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 48, diện tích 11.165m2, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Naitheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: H03558 do Ủy ban nhân dân huyện L ngày 12/06/2008,
  • Thửa đất số 44, tờ bản đồ số 48, diện tích 10.476m2, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng naitheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: H03557 do Ủy ban nhân dân huyện L ngày 12/06/2008.

Ngày 11/06/2014, vợ chồng ông Diệp Xuân K1 Trần Thị Ngọc T1 bán cả hai thửa đất nêu trên cho bà Phan Thị H4 không cho ông biết. Do thời gian đó ông Kuo C Hquay trở về Đài Loan để chữa bệnh.

Sau khi nguyên đơn quay trở lại Việt Nam thì biết được việc vợ chồng ông Kbà T2 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất mà nguyên đơn nhờ đứng tên. Qua trao đổi, ông Kbà T2 làm văn bản xác nhận việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giúp ông, xác nhận việc chuyển nhượng đất cho bà H2với giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng là 2.000.000.000 đồng, nhưng giá giao dịch thực tế là 760.000 USD, tương đương 15.960.000.000 đồng. Tới nay, vợ chồng ông Kbà T3 trả cho nguyên đơn giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất nêu trên.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông K1 Thanh thanh T1cho ông số tiền 15.960.000.000 là giá trị của hai thửa đất nêu trên.

Bị đơn ông Diệp Xuân K trình bày:

Quá trình đứng tên giùm và chuyển nhượng đúng như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, trên thực tế ông không nhận tiền chuyển nhượng. Vì bị đơn chỉ làm thủ tục, bà H2cũng là người đứng tên giùm cho một người Đài Loan khác. Việc giao nhận tiền là do nguyên đơn và người Đài Loan mua thực hiện với nhau, bị đơn không liên quan. Việc bị đơn chuyển nhượng đất được sự đồng ý của nguyên đơn, bị đơn chỉ đứng ra làm thủ tục chuyển nhượng vì giấy tờ do bị đơn đứng tên, còn tiền chuyển nhượng bị đơn không nhận và không liên quan gì đến việc nhận tiền.

Bị đơn chỉ nhận tiền 30.000 Đài tệ tiền công làm thủ tục sang nhượng. Bị đơn thừa nhận chữ ký trên giấy xác nhận ngày 04/9/2019 là của bị đơn. Nguyên nhân có tờ xác nhận là vì vào thời điểm đó, có một người phụ nữ đi cùng nguyên đơn đưa cho bị đơn một tờ giấy, nói rằng ký vào tờ giấy này là để kiện bà H2nên bị đơn ký vào mà không đọc nội dung. Vừa qua, bị đơn có liên lạc với nguyên đơn qua điện thoại thì nguyên đơn cho biết nguyên đơn không phải kiện bị đơn và bà T4 là muốn kiện bà H2.

Bị đơn bà Trần Thị Ngọc T5 bày:

Bà là vợ của ông Diệp Xuân K2 đứng tên giùm, sang nhượng thửa đất nói trên bà không biết gì, vì ông K4 nguyên đơn tự liên lạc với nhau và nói bằng tiếng Đài Loan nên bà không biết. Tờ xác nhận là do ông K3 về và nói bà ký vào nên bà ký chứ bà không biết gì về nội dung tờ xác nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H2 đã được tống đạt hợp lệ tham gia các buổi làm việc, hòa giải, xét xử tại Tòa án nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn ông Kuo C H có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Văn H5 bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông K1 Thanh thanh T1cho ông Kuo C H số tiền 15.960.000.000 đồng.

Bị đơn ông Diệp Xuân K4 bà Trần Thị Ngọc T6 mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị H6 mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông K5 Chien Hvề việc yêu cầu bị đơn ông Diệp Xuân K1 Trần Thị Ngọc T7 trả số tiền 15.960.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/10/2019, nguyên đơn yêu cầu ông Diệp Xuân K4 bà Trần Thị Ngọc Thanh T8 T1cho nguyên đơn số tiền 15.960.000.000 đồng.

Do đó Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng dân sự về việc đòi tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Về thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn ông Kuo Chien H7 đang cư trú tại N.60 CTuku T2Yunlin C, Đài Loan nên căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 35; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân cấp tỉnh, cụ thể là Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về sự vắng mặt của các đương sự:

Nguyên đơn ông Kuo C H có người đại diện theo uỷ quyền là ông Trần Văn H8 mặt tại phiên tòa ngày 11/3/2025 và có đơn xin vắng mặt ngày 08 và ngày 15/4/2025.

Bị đơn ông Diệp Xuân K4 bà Trần Thị Ngọc T6 mặt không có lý do Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H6 mặt không có lý do Tòa án đã tiến hành tống đạt và đã đăng báo hợp lệ.

Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những đương sự trên.

[2.] Về nội dung:

Nguyên đơn ông Kuo C Hyêu cầu ông Diệp Xuân K4 bà Trần Thị Ngọc Thanh T8 T1cho ông Kuo C Hsố tiền 15.960.000.000 đồng do ông Kbà T9 tên dùm và đã chuyển nhượng cho bà H2đối với thửa đất số 44, diện tích 10.467 m², thửa đất số 66, diện tích 11.165 m² tờ bản đồ số 48, tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai

Căn cứ số 272/CCTT-VPĐK.LT-TTLT ngày 21/3/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh ĐChi nhánh L1về xác minh nguồn gốc thửa đất thể hiện:

Nguồn gốc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 48, diện tích 10.467 m² tại xã L được Ủy ban nhân dân huyện L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 037098 ngày 12/6/2008 cho ông K4 bà TNgày 11/6/2014, ông Kbà T10 đơn đề nghị cập nhật biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất tại trang 5 của giấy chứng nhận. Ngày 11/6/2014, ông K1 Tký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Phan Thị H2theo hợp đồng công chứng số 3095/2014 do Văn phòng C1chứng thực. Ngày 27/8/2014, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận số BV 330635 cho bà Phan Thị H2

Nguồn gốc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 48, diện tích 11.165 m² tại xã L được ủy ban nhân dân huyện L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 037099 ngày 12/6/2008 cho ông K4 bà TNgày 20/6/2014 ông Kbà T10 đơn đề nghị cập nhật

biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất tại trang 5 của giấy chứng nhận. Ngày 11/6/2014, ông K1 Tký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà H2theo hợp đồng công chứng số 3095/2014 do Văn phòng C1chứng thực. Ngày 27/8/2014, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận số BV 330634 cho bà H2

Ngày 20/3/2018, bà H2đã ký hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Xuân L 30/3/2018, ông L1 hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 02 thửa đất trên cho ông Phạm Văn H3ngày 12/4/2018, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cập nhật tên ông H3 Ngày 09/10/2018, ông H3và bà Đỗ Thị Q ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc K6 K1cập nhật tên ngày 16/10/2018; Ngày 16/11/2018, ông K1và bà Thái Thị O hợp đồng ủy quyền cho ông Phạm Văn H9 ngày ông H3ký chuyển nhượng cho bà Đặng Thị Kim A 20/3/2019, bà A1 cập nhật tên trên giấy chứng nhận.

Như vậy, căn cứ vào công văn trên thể hiện ông Kbà T9 tên chủ sở hữu vào năm 2008, đến năm 2014 chuyển nhượng sang cho bà H10 nay thửa đất đã chuyển qua nhiều chủ sở hữu. Theo lời khai cũng như giấy xác nhận ngày 04/9/2019 thể hiện ông K1 Tlà người đứng tên dùm ông Kuo C H đối với 02 thửa đất đã chuyển nhượng cho bà H2

Phía bà Phan Thị H11 được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi liên quan nhưng vắng mặt không có lý do nên không thể ghi nhận được việc giao tiền cho ai. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành đăng thông tin liên quan đến nội dung vụ án nhưng không có tin tức phản hồi từ phía bà H12 ra, theo danh sách khách xuất nhập cảnh thể hiện bà H2đã xuất cảnh ngày 01/4/2023, hiện nay chưa có thông tin nhập cảnh, hiện nay không rõ địa chỉ ở đâu.

Tại đơn khởi kiện ông Kuo C Hxác nhận “Ông Kuo Chien H- là người có quốc tịch nước ngoài, không đủ điều kiện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên sau khi mua đất, ông Kuo Chien H3 nhờ vợ chồng ông Kbà T11- có quốc tịch Việt Nam (là bạn ông Kuo C Hđứng tên giùm trên 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” phía bị đơn ông Diệp Xuân K xác nhận (tại biên bản ghi nhận sự việc ngày 02/11/2020) “Quá trình đứng tên giùm và chuyển nhượng đúng như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, trên thực tế ông K7 nhận tiền chuyển nhượng. Vì ông K8 làm thủ tục, bà H2cũng là người đứng tên giùm cho một người Đài Loan khác. Việc giao nhận tiền là do ông Kuo C H và người Đài Loan mua thực hiện với nhau, ông K7 liên quan. Việc ông chuyển nhượng đất được sự đồng ý của ông Kuo Chien H, ông chỉ đứng ra làm thủ tục chuyển nhượng vì giấy tờ do ông đứng tên, còn tiền chuyển nhượng ông không nhận và không liên quan gì đến việc nhận tiền. Ông K8 nhận tiền 30.000 đài tệ tiền công làm thủ tục sang nhượng. Ông K9 nhận chữ ký trên giấy xác nhận ngày 04/9/2019 là của ông K. Nguyên nhân có tờ xác nhận là vì vào thời điểm đó, có một người phụ nữ đi cùng ông Kuo C H đưa

cho ông một tờ giấy, nói rằng ký vào tờ giấy này là để kiện bà H2nên ông K10 vào mà không đọc nội dung. Vừa qua, ông có liên lạc với ông Kuo C H qua điện thoại thì ông Kuo C H cho biết ông Kuo C H không phải kiện ông K và bà T4 là muốn kiện bà H2

Phía bà T5 bày: Bà là vợ của ông Diệp Xuân K2 đứng tên giùm, sang nhượng thửa đất nói trên bà không biết gì, vì ông K4 ông Kuo C H tự liên lạc với nhau và nói bằng tiếng Đài Loan nên bà không biết. Tờ xác nhận là do ông K3 về và nói bà ký vào nên bà T12 chứ bà T không biết gì về nội dung tờ xác nhận.

Tại phiên tòa phía nguyên đơn trình bày ông Kuo C H có đưa tiền cho ông Diệp Xuân K11 đất và xin tòa tạm ngừng để cung cấp chứng cứ.

Ngày 22/3/2025, ông Trần Văn H13 diện cho nguyên đơn có bản tường trình; ông Kuo Chien H14 mượn tiền bạn bè để đưa cho ông ông Diệp Xuân K1 Trần Thị Ngọc T13 đất và đứng tên dùm... nay ông Kuo C Hđiều trị bệnh nên không nhớ được không có gì chứng minh. Lời khai này mâu thuẩn với nội dung đơn khởi kiện ngày 23/10/2019 ông Kuo C Hxác nhận “... sau khi mua đất, ông Kuo Chien H3 nhờ vợ chồng ông Diệp Xuân K1 Trần Thị Ngọc T– có quốc tịch Việt Nam (là bạn ông Kuo C Hđứng tên giùm trên 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”

Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Kuo Chien H15 kiện yêu cầu ông Diệp Xuân K4 bà Trần Thị Ngọc Thanh T8 T1cho ông Kuo C Hsố tiền 15.960.000.000 (Mười lăm tỷ chín trăm sáu mươi triệu) đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh là ông Kuo Chien H3 đưa tiền cho ông K4 bà T13 đất cũng như số tiền 15.960.000.000 (Mười lăm tỷ chín trăm sáu mươi) triệu đồng mà ông K, bà T2 nhận của bà H16 đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Kuo C H

Xét thấy Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguyên đơn phải chịu án phí trên yêu cầu không được Tòa án chấp nhận 15.960.000.000 (Mười lăm tỷ chín trăm sáu mươi triệu) đồng số tiền án phí sơ thẩm ông Kuo C H phải chịu là 123.960.000 (Một trăm hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; 3 Điều 35; Điều 37 ; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Kuo C H: Buộc bị đơn ông Diệp Xuân K4 bà Trần Thị Ngọc Tông K12 Thanh thanh T1cho ông số tiền 15.960.000.000 (Mười lăm tỷ chín trăm sáu mươi triệu) đồng.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Kuo Chien H17 chịu là 123.960.000 (một trăm hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng. Ông Kuo C H đã nộp 61.980.000 (sáu mươi mốt triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0045175 ngày 12 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Kuo C H còn phải nộp thêm 61.080.000 (sáu mươi mốt triệu không trăm tám mươi nghìn) đồng.
  3. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Xuân

Hồ Văn Cảm

Phan Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 154/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sån
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger