Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/LÐ-ST

Ngày: 29 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu - Nguyên Trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương;
  2. Bà Phạm Thị Thu Yến – Nguyên phó Trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vương Triều - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 118/2024/TLST-LĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-LÐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Tiểu M, sinh năm: 1995; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; Địa chỉ liên lạc: Tổ E, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần C1; địa chỉ: T, Tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Yu Kuo C, sinh năm 1948. Địa chỉ: T, Tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 19 tháng 7 năm 2024); có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị V, sinh năm: 1996; địa chỉ: Ấp T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 bà Bùi Thị Tiểu M ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S chi nhánh 2 T và có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7413194967 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Do không am hiểu về pháp luật nên bà Bùi Thị Tiểu M có cho bà Bùi Thị V mượn giấy chứng minh nhân dân để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần C1 từ tháng 06 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 với mã số Bảo hiểm xã hội 7413014435.

Hiện nay đang tồn tại hai mã số bảo hiểm xã hội tên Bùi Thị Tiểu M, nên bà M không thực hiện được thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm theo quy định.

Do đó bà Bùi Thị Tiểu M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động tên Bùi Thị Tiểu M (thực tế bà Bùi Thị V là người lao động) với người sử dụng lao động là Công ty cổ phần C1 trong khoảng thời gian từ tháng 06 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 là vô hiệu toàn bộ. Bà Bùi Thị Tiểu M không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì về hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty cổ phần C1 trình bày: Công ty cổ phần C1 có ký hợp đồng lao động với người lao động có tên Bùi Thị Tiểu M. Công ty có đăng ký bảo hiểm xã hội cho lao động Bùi Thị Tiểu M theo thông tin người lao động cung cấp và hợp đồng lao động ký kết giữa hai bên. Tuy nhiên do số người lao động tuyển dụng quá nhiều và thời gian lâu nên phía công ty không thể xác nhận chính xác người lao động tại thời điểm đó có thực sự là bà Bùi Thị Tiểu M hay người khác, cho nên hiện nay thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công ty không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị V trình bày: Bà M và bà V là chị em ruột khoảng năm 2013 và bà H có mượn giấy chứng minh của bà T để đi xin làm việc tại Công ty cổ phần C1 và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 06 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014, nhưng thực tế người làm việc là bà V. Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Tiểu M thì bà V thống nhất và không có yêu cầu gì đối với vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Trong quá trình tố tụng đã có công văn phúc đáp cho Tòa án về quá trình đóng bảo hiểm của bà Bùi Thị Tiểu M, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa:

- Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung,

thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ Điều 15, 16, 49 và 51 Bộ luật Lao động năm 2019 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Bùi Thị Tiểu M khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên bà Bùi Thị Tiểu M (do bà Bùi Thị V là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty cổ phần C1, có địa chỉ trụ sở T, Tổ C, khu phố B, phương T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 là vô hiệu. Đây là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các đương sự không cung cấp Hợp đồng lao động giữa Công ty cổ phần C1 và bà Bùi Thị Tiểu M. Tuy nhiên, các đương sự cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh thể hiện có người lao động tên Bùi Thị Tiểu M làm việc tại Công ty cổ phần C1: Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động; Hồ sơ xin việc; Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.Các tài liệu được các đương sự thống nhất,có căn cứ xác định có tồn tại quan hệ lao động giữa Công ty cổ phần C1 và tên người lao động Bùi Thị Tiểu M.

[2.2] Bà Bùi Thị Tiểu M cho bà Bùi Thị V mượn giấy tờ cá nhân để xác lập hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 tại Công ty cổ phần C1 theo mã số Bảo hiểm xã hội 7413014435. Thực tế cá nhân trực tiếp lao động và ký kết hợp đồng tại Công ty cổ phần C1 từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 là bà Bùi Thị V không phải bà Bùi Thị Tiểu M. Việc bà Bùi Thị V mượn hồ sơ của bà Bùi Thị Tiểu M để làm việc tại Công ty cổ phần C1 và tham gia bảo hiểm xã hội với tên bà M là không đúng quy định của pháp luật, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.3] Bà Bùi Thị V, Công ty cổ phần C1 không tranh chấp, không yêu cầu gì liên quan hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 17, 19, 50, 51 và Điều 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (nay là các Điều 15, 16, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019);

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Tiểu M về việc Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu với bị đơn Công ty cổ phần C1.
    • Tuyên Hợp đồng lao động giao kết giữa tên bà Bùi Thị Tiểu M và Công ty cổ phần C1 trong thời gian từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 là vô hiệu.
    • Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết các chế độ Bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật.
  2. Về án phí: Bà Bùi Thị Tiểu M tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002011 ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  3. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thuận An;
  • - CCTHADS Tp. Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoa Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/LÐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu

  • Số bản án: 154/2024/LÐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ KHỞI KIỆN BĐ TRANH CHẤP HĐ VO HIEU
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger