Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NÔI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 154/2024/HSST

Ngày: 25/07/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Ông Nguyễn Văn Tuất.

    2. Ông Nguyễn Văn Diệm.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Ông Nguyễn Văn Cường- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2024/HSST ngày 13 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ N, sinh năm 1983; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đội 7, N, N, Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn C và con bà Nguyễn Thị N1; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 23/4/2024; hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Phạm Thùy L, sinh năm 1983. Vắng mặt tại phiên toà.

  • Địa chỉ: Khu B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

  • + Anh Cồ Việt T, sinh năm 1983. Vắng mặt tại phiên toà.

  • Địa chỉ: Số H A, phường Y, quận T, Hà Nội

  • + Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1987. Vắng mặt tại phiên toà.

  • Địa chỉ: Số B, ngách B Đ, phường C, quận H, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 ngày 14/04/2024, Cồ Việt T (Sinh năm: 1983, HKTT: SỐ H A, phường Y, quận T, Hà Nội) và Nguyễn Minh T1 (Sinh năm: 1987, HKTT: SỐ B, Ngách B Đ, phường C, quận H, Hà Nội) cùng nhau đi ăn uống, sau đó rủ nhau góp tiền đi mua dâm. Do quen biết từ trước, T dùng tài khoản mạng xã hội Zalo tên "Hải Anh" của T gọi điện, nhắn tin liên lạc đến tài khoản mạng xã hội Zalo tên "Băng Băng" của Nguyễn Thị N2 để thỏa thuận việc mua bán dâm. T nhờ N2 gọi thêm 01 gái bán dâm khác đến bán dâm cho bạn mình là Nguyễn Minh T1 thì N2 đồng ý. Nhạn thỏa thuận với T giá 800.000 đồng/01 lượt, N2 yêu cầu T chuyển khoản trước 200.000 đồng cho N2 để đặt cọc làm tin. T đồng ý và chuyển số tiền 200.000 đồng từ số tài khoản 19035416711010 tại ngân hàng T3 của T đến số tài khoản 0388182702 tại ngân hàng M của N2 theo đúng yêu cầu. Sau khi nhận được tiền cọc, N2 nhắn tin qua Zalo tên “SuSu” của Phạm Thùy L (Sinh năm: 1983, HKTT: Khu Bo, Thị trấn B, Huyện K, Hòa Bình là bạn đang ở cùng dãy trọ với N2) với nội dung “Em đi bán dâm với chị không, giá 800.000 đồng/1 lượt bán dâm”, L đồng ý.

Khoảng 22 giờ 30 ngày 14/04/2024, T và T1 đến nhà nghỉ S ở thôn Y, T, T, Hà Nội thuê 02 phòng là phòng 201(tầng 2) và phòng 301(tầng 3), rồi cả hai đi lên phòng 201 đề chờ N2 và L đến. Một lúc sau, N2 cùng L đến nhà nghỉ. Nhạn chủ động đi vào phòng 201 gặp T, T1 và bảo L đi lên trên phòng 301 chờ T1 lên sẽ bán dâm. Tại phòng 201, T đưa cho N2 số tiền 2.000.000 đồng, gồm: 800.000 đồng là tiền bán dâm của N2, 800.000 đồng là tiền bán dâm của L; 300.000 đồng là tiền T trả công cho N2 đã gọi L đi bán dâm cho T1; 100.000 đồng là tiền T thưởng cho L. Còn số tiền 200.000 đồng tiền đặt cọc chuyển khoản trước đó, T thưởng thêm cho N2. Sau đó, N2 và T ở lại phòng 201, T1 đi lên phòng 301.

Hồi 23 giờ 00 ngày 14/4/2024, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH - Công an huyện T kiểm tra hành chính nhà nghỉ S, ở thôn Y, T, T, Hà Nội, phát hiện:

Tại phòng 201 có Nguyễn Thị N2 và Cổ Việt T2 đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Tang vật thu giữ của N2 gồm: số tiền 2.000.000 đồng và 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động OPPO màu xanh; thu giữ của Cồ Việt T: 01 điện thoại di động SamSung màu trắng đã qua sử dụng.

Tại phòng 301 có Phạm Thùy L và Nguyễn Minh T1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Tang vật thu giữ của L gồm: 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ và 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Đối với hành vi mua dâm của Cồ Việt T, Nguyễn Minh T1 và hành vi bán dâm của Nguyễn Thị N2, Phạm Thùy L, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Đặng Đức C1 là chủ nhà nghỉ S, anh Vũ Nhật Đ là quản lý và anh Lò Văn C2 là lễ tân không biết các đối tượng thuê phòng nghỉ để hoạt động mua bán dâm nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với số tiền 2.200.000 đồng, 02 bao cao su đã qua sử dụng thu giữ của N2 và L là vật chứng của vụ án; 01 điện thoại di động OPPO màu xanh thu giữ của N2; 01 điện thoại di động SamSung màu trắng thu giữ của T; 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ thu giữ của L dùng để liên lạc mua bán dâm nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị N2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng đặt cọc hưởng lợi từ việc bán dâm. Lời khai của N2 phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã thu thập được, phù hợp với lời khai của T, T1, L.

Tại bản cáo trạng số 129/CT-VKS-TT ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Thị N2 về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, xử phạt: Nguyễn Thị N2 từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 23/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 02 bao cao su đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.200.000 đồng, 01 điện thoại di động OPPO màu xanh, 01 điện thoại di động Samsung màu trắng, 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Thị N2 giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, Nguyễn Thị N2 đã môi giới cho Phạm Thùy L bán dâm cho Nguyễn Minh T1 tại Nhà nghỉ S ở thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội. Đến 23 giờ 00 cùng ngày, khi Phạm Thùy L và Nguyễn Minh T1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 301, N2 và Cồ Việt T đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 201 thì bị Công an huyện T kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ tang vật. Số tiền Nguyễn Thị N2 được hưởng từ việc môi giới mua bán dâm là 500.000 đồng.

Đối chiếu quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, lành mạnh và làm suy đồi đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, gây mất trật tự trị an xã hội. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, cần xử lý bằng pháp luật hình sự.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, để giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường ít nghiêm trọng và tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng:

Đối với số tiền 2.200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị N2, Phạm Thùy L, đây là số tiền hưởng lợi bất chính cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO màu xanh thu giữ của N2, 01 điện thoại di động Samsung màu trắng thu giữ của T, 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ thu giữ của L là các phương tiện để bị cáo và các đối tượng liên quan liên lạc việc môi giới mại dâm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi mua dâm của Cồ Việt T, Nguyễn Minh T1 và hành vi bán dâm của Nguyễn Thị N2, Phạm Thùy L, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Toà không xét.

Đối với ông Đặng Đức C1 là chủ nhà nghỉ S, anh Vũ Nhật Đ là quản lý và anh Lò Văn C2 là lễ tân không biết các đối tượng thuê phòng nghỉ để hoạt động mua bán dâm nên Cơ quan điều tra không xử lý. Toà không xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Thị N2 phạm tội “Môi giới mại dâm”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Điều Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333, Chương 28 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: Nguyễn Thị N2 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 23/4/2024.

[2]. Về vật chứng:

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

    • + Số tiền 2.200.000 đồng (tại Uỷ nhiệm chi số 97 lập ngày 10/07/2024)

  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

    • + 01 điện thoại di động OPPO màu xanh (đã qua sử dụng).

    • + 01 điện thoại di động Samsung màu trắng (đã qua sử dụng).

    • + 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ (đã qua sử dụng).

  • (Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/06/2024)

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng. (Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/06/2024)

[3]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;

  • - VKSNDTP Hà Nội;

  • - VKSND huyện Thanh Trì;

  • - Công an huyện Thanh Trì;

  • - THADS huyện Thanh Trì;

  • - Bị cáo;

  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;

  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (môi giới mại dâm)

  • Số bản án: 154/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Môi giới mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, Nguyễn Thị Nhạn đã môi giới cho Phạm Thùy Linh bán dâm cho Nguyễn Minh Tiến tại Nhà nghỉ Sao ở thôn Yên Xá, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Đến 23 giờ 00 cùng ngày, khi Phạm Thùy Linh và Nguyễn Minh Tiến đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 301, Nhạn và Cồ Việt Tuấn đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 201 thì bị Công an huyện Thanh Trì kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ tang vật. Số tiền Nguyễn Thị Nhạn được hưởng từ việc môi giới mua bán dâm là 500.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger