|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:154/2024/HS-ST
Ngày 26-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Ngọc Hùng.
- Bà Bồ Thị Thái.
- Thư ký Tòa án: Ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Anh T
(tên gọi khác: không), sinh ngày 09/11/1977, tại tỉnh Điện Biên; nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Đình T1, sinh năm 1943 và bà Mai Thị L (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T2 và có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2016 bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt từ ngày 28 tháng 3 năm 2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
1
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 20 phút ngày 28/03/2024, tổ công tác Công an phường T, thành phố S chủ trì phối hợp với Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường C, thành phố S phát hiện 01 người nam giới mặc quần áo rằn ri, màu xanh đi một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu xanh xám đen, biển kiểm soát 26K2-1114 đang lưu thông trên đoạn đường H hướng ngã ba trại ong đi thành phố S có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và yêu cầu kiểm tra người nam giới trên. Quá trình làm việc, người nam giới khai nhận tên là Lê Anh T, sinh năm 1977, cư trú tại tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, đồng thời T tự giác lấy từ túi áo ngực phía trước bên trái ra giao nộp 01 gói giấy màu trắng, mở ra bên trong có chất bột màu trắng (T khai nhận là ma túy Heroine, cất giấu để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và tiến hành niêm phong toàn bộ vật chứng.
Ngoài ra còn tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu xanh xám đen, biển kiểm soát 26K2-1114, số khung RLHHC12058Y593249, số máy HC12E0194923, xe cũ đã qua sử dụng. Tiến hành kiểm tra xe mô tô không phát hiện đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội.
Hồi 20 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại đối với vật chứng thu giữ của Lê Anh T khi bắt quả tang, kết quả: Chất bột màu trắng có khối lượng 0,18 gam; lấy 0,08 gam làm mẫu giám định, ký hiệu L; còn 0,10 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu T.
Kết luận giám định số 786/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu L gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18gam; Loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra Lê Anh T khai nhận: Lê Anh T sử dụng ma túy từ năm 2014. Vào 15 giờ 30 phút ngày 28/03/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển kiểm soát 26K2-1114 từ ngã tư D thuộc tổ F, phường C, thành phố S đi đo tủ cho một nhà dân tại khu vực gần Trung tâm sát hạch trường L1. Khi đến khu vực chợ C thuộc huyện M thì T gặp một người nam giới không quen biết, nhìn giống người nghiện. Lúc này, T nảy sinh ý định mua ma túy H để sử dụng nên đã lại gần để hỏi mua ma túy. Người nam giới đồng ý bán ma túy cho T và bảo đưa tiền trước thì T đưa cho người nam giới số tiền 100.000 VNĐ. Người nam giới cầm tiền rồi rời đi khoảng 5 phút sau quay lại đưa cho T 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa cục bột màu trắng là Heroine. T cất gói ma túy trên vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi xe về hướng thành phố S để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến khu vực tổ F, C thì T bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.
Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ (0,18 gam Heroine), Lê Anh T khai mua của một người nam giới không quen biết, khoảng 50 tuổi, dáng người cao, gầy, mặc áo màu xanh, quần màu trắng tại khu vực chợ C thuộc xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị can không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để điều tra mở rộng.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu xanh xám đen, biển kiểm soát 26K2-1114, xe có đăng ký mang tên Nguyễn Thế T3, địa chỉ tổ C, phường T, thành phố S. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung vợ chồng của bị cáo Lê Anh T và chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981, cư trú tại tổ E, phường C, thành phố S (là vợ của bị cáo). Việc bị cáo T sử dụng xe để đi mua ma túy chị T2 không biết, không tham gia.
Tại bản cáo trạng số: 407/CT-VKSTP ngày 09/9/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Lê Anh T4 tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứđiểm ckhoản1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 15 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (Một) chiếc phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưuT = 0,10 gam" được niêm phong trong 01 phong bì công văn Công an thành phố S, bên ngoài được dán kín bằng giấy niêm phong số 084323.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị T2 01 (Một) chiếcxe máy nhãn hiệu Honda,
3
loại Wave, BKS: 26K2-1114, số máy: 0194923, số khung: 593249, yên xe rách, cao su giá để chân phía trên bên phải rách, xe đã qua sử dụng.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh T nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người liên quan chị Nguyễn Thị T2 không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Lê Anh T là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 2014, thường tìm mua ma túy của những đối tượng không quen biết để sử dụng. Ngày 28/3/2024, tại khu vực tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, Lê Anh T có hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Anh T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- - Lời khai nhận tội của bị cáo;
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 28/3/2024 tại tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lê Anh T cùng vật chứng thu giữ trong vụ án.
- - Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định; Kết luận giám định số 786/KL - KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S.
4
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Trần Quang B là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Anh T, phù hợp với kết quả điều tra.
Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Lê Anh T với tổng khối lượng 0,18 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Lê Anh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, khối lượng ma túy bị thu giữ trong vụ án là 0,18 gam Heroinecó khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[4] Hội đồng xét xử thấy rằng: Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Anh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Quá trình điều tra Lê Anh T khai nhận mua 0,18(không phẩy mười tám) gam Heroine của một người nam giới không biết họ, tên, địa chỉ, nhà ở đâu với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Ngoài lời khai của T ra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh, làm rõ. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để tiếp tục điều tra xác minh mở rộng vụ án.
[8] Vật chứng vụ án:
- - Đối với:01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ Lê Anh T, sinh năm 1977–Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 28/3/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng; Mẫu lưu
5
T = 0,10 gam” là số ma túy còn lại sau khi gửi giám định),là vật cấm tàng trữ, lưu hành, và vật không có giá trị nên cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 26K2-1114, số máy: 0194923, số khung: 593249, yên xe rách, cao su giá để chân phía trên bên phải rách, xe đã qua sử dụng. Xác định là tài sản chung của bị cáo Lê Anh T và vợ của bị cáo T là Nguyễn Thị T2, chiếc xe là tài sản có giá trị duy nhất và là phương tiện duy nhất để sử dụng chung trong việc đi lại của gia đình, nguồn gốc chiếc xe là do vợ bị cáo T mua khi bị cáo T đang đi chấp hành án. Sự việc có xác nhận của chính quyền địa phương, chị T2 không biết và không tham gia vào việc T sử dụng xe để làm phương tiện thực hiện việc mua ma túy. Do vậy cần trả chiếc xe trên cho chị T2 quản lý và sử dụng.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Anh T 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2.Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1 Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ Lê Anh T, sinh năm 1977–Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 28/3/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng; Mẫu lưu T = 0,10 gam”, mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong, trên giấy dán niêm phong có dòng chữ "GIẤY NIÊM PHONG CÔNG AN TỈNH SƠN LA", số 084323 và 01 dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S cùng chữ ký, dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong của Lê Trung Đ, Nguyễn Trung H1, Nguyễn Thị Thùy D, Trần Quang B, Phạm Kiên T5, đối tượng Lê Anh T và ghi dòng chữ " Cơ quan CSĐT-CATP Sơn La hồi 20 giờ 15 phút ngày 28/3/2024 tại CATP S".
2.2 Trả lại cho: Chị Nguyễn Thị T2 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu
6
Honda, loại Wave, BKS: 26K2-1114, số máy: 0194923, số khung: 593249, yên xe rách, cao su giá để chân phía trên bên phải rách, xe đã qua sử dụng.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanđược quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Cầm Thị Thanh Huyền |
7
8
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Anh Tuấn phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
