Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HS-ST

Ngày: 22/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn;
  • Bà Trần Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội, Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy H Sinh năm: 1982
Tên gọi khác: Không
Giới tính: Nam
Nơi thường trú: xóm T, xã U, huyện Đ, TP Hà Nội
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ văn hoá: 07/12
Họ tên bố: Nguyễn Duy S (Sinh năm: 1940)
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị A (Sinh năm: 1947)
Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ tư
Vợ: Trần Thị Phương M (Sinh năm: 1983)
Cùng trú tại: xóm T, xã U, huyện Đ, TP Hà Nội
Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • - Bản án số 364/ST ngày 01/8/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội: Bắt giữ người trái pháp luật, đã nộp án phí ngày 04/01/2013.
  • - Bản án số 400/ST ngày 18/10/2013, Tòa án nhân dân TP Hà Nội xử phạt 19 tháng tù về tội: Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù theo Bản án số 364 ngày 01/8/2012, buộc chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 28 tháng tù. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 26/9/2020, đã nộp án phí ngày 05/3/2014.

Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 30/12/2023 đến ngày 05/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh và bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh kể từ ngày 05/02/2024. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 30/12/2023, Công an phường X nhận được tin báo tại căn hộ A, Tòa R, Chung cư T, phường M, quận N, TP Hà Nội có đối tượng nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý nên tiến hành kiểm tra. Khi Tổ công tác kiểm tra, phát hiện trong căn hộ 1002 có Nguyễn Thị Thu N (SN: 1992; Nơi thường trú: Khu H, phường V, TP B, tỉnh Bắc Ninh) và Nguyễn Duy H (SN: 1982; Nơi thường trú: xóm T, xã U, huyện Đ, TP Hà Nội). Kiểm tra tại chỗ, Nguyễn Duy H khai nhận có sử dụng ma tuý “Ketamin” và ma tuý “đá” và chỉ chỗ cất giấu ma tuý tại ngăn kéo tủ tivi. Nguyễn Thị Thu N không sử dụng ma tuý và đang ngủ trong phòng riêng (BL 83-106).

Quá trình kiểm tra phát hiện tại khu vực kệ tủ tivi có:

  • - 01 coóng thuỷ tinh dài 17 cm có dính tinh thể màu trắng;
  • - 01 túi ni lông màu trắng (kích thước khoảng 8,5cm x 13,5cm) có chứa tinh thể màu trắng;
  • - 01 đĩa thủy tỉnh hình tròn trên đĩa có dính tinh thể màu trắng;
  • - 01 tầu cuốn bằng tờ tiền nước ngoài;
  • - 01 thẻ nhựa cứng màu đỏ.

Tổ công tác đã lập biên bản kiểm tra, tạm giữ, niêm phong tang vật và dẫn giải đối tượng về trụ sở để điều tra làm rõ (BL 45-48,108-110).

Vật chứng thu giữ (BL 51, 52, 111, 116):

Thu giữ của Nguyễn Duy H: 01 thẻ nhựa cứng màu đỏ; 01 tẩu hút cuốn bằng tờ tiền nước ngoài; 01 túi nilon màu trắng (kích thước 8,5 cm x 13,5 cm) chứa tinh thể màu trắng bên trong; 01 coóng thuỷ tinh có dính tinh thể màu trắng, 01 đĩa thuỷ tinh hình tròn có đặt tinh thể màu trắng bên trên; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XSMax màu vàng, số IMEI: 357272090576426 gắn sim số 0977419492, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax màu vàng, số IMEI: 353730394550482 gắn sim số 0915374444; 01 loa màu đen.

Tại Kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận (BL 57):

  • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng (kích thước 8,5 cm x 13,5 cm) là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng: 0,972 gam.
  • - 01 coóng thuỷ tinh có dính ma tuý loại Methamphetamine.
  • - Tinh thể màu trắng bên trên 01 đĩa thuỷ tinh hình tròn là ma tuý loại Ketamine, khối lượng 0,466 gam.
  • - 01 thẻ nhựa cứng màu đỏ và 01 tẩu hút cuốn bằng tờ tiền nước ngoài đều có dính ma tuý loại Ketamine.

Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/02/2018, tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của K và M1 là: 21,77% (dưới 100%).

Quá trình điều tra xác định:

Nguyễn Duy H là đối tượng sử dụng ma tuý tổng hợp, thường xuyên đến ăn, ở, sinh hoạt tại căn hộ A, Tòa R, Chung cư T, phường M, quận N, TP Hà Nội là nơi ở do chị Nguyễn Thị Thu N là bạn gái của H thuê. H đã mua 01 túi ma tuý “Ketamin” và 01 túi ma tuý “đá” cất trong ví mang theo người để sử dụng dần.

Khoảng 11 giờ ngày 29/12/2023, H rủ chị N đến nhà anh Nguyễn Hùng T (SN: 1972; Nơi thường trú: Khu phố K, phường H, TP T, tỉnh Bắc Ninh) để ăn uống, tại đây có anh Nguyễn Văn T1 (SN: 1973; Nơi thường trú: Khu phố K, phường H, TP T, tỉnh Bắc Ninh) và anh Nguyễn Văn Ổ (SN: 1977; Nơi thường trú: ấp Đ, xã D, TP P, tỉnh Kiên Giang). Quá trình ăn uống, cả nhóm có rủ nhau sang Hà Nội chơi nên H mời mọi người đến thăm căn hộ A, Tòa R, Chung cư T do chị N thuê. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn uống tại nhà anh T xong, H và N về Hà Nội trước, sau đó anh T, anh T1 và anh Ổ đi sau. Khi H và N về nhà thì chị N vào phòng trong, đóng cửa và ngủ, còn H ở lại phòng khách. Khi nhóm T, T1, Ổ đến Chung cư T thì được H đón lên căn hộ 1002 của N để ngồi chơi nhưng do cả nhóm trước đó đã uống rượu say nên tất cả nằm ngủ tại ghế sopha phòng khách mà không đi ăn uống tiếp như đã hẹn. Khoảng 21 giờ cùng ngày, anh T1 và anh Ổ tỉnh dậy ra về trước, còn anh T do say rượu không tỉnh dậy nên tiếp tục nằm ngủ đến 04 giờ sáng ngày 30/12/2023 mới tỉnh dậy ra về. Sau khi mọi người ra về hết, lúc này H mới lấy 01 túi ma túy “ke” và 01 túi ma túy “đá” có sẵn từ trước cất giấu trong ví cầm tay ra và tự chế các dụng cụ để sử dụng (đĩa, thẻ, tẩu hút, bình coóng). Huấn đổ hết túi ma túy “ke” ra đĩa xào và sử dụng 02 đường, lấy một ít ma túy “đá” ra cho vào bình coóng đốt lên để hút. Đến 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi H đang sử dụng ma túy một mình tại phòng khách thì nghe thấy có tiếng chuông cửa nên H đã cất giấu chiếc bình coóng sau rèm cửa, cất đĩa đựng ma túy “ke” và túi ma túy “đá” vào hai ngăn tủ kệ để tivi tại phòng khách rồi ra mở cửa thì bị Tổ công tác cơ quan công an kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên (BL 83-106).

Đối với đối tượng bán ma túy cho H, H khai khoảng đầu tháng 11 năm 2023, qua bạn bè xã hội giới thiệu H tìm mua ma túy của một người không quen biết có tài khoản mạng xã hội Z tên “Hưng Đồ”, H đặt mua ma tuý cùng ống coóng, tổng giá trị là 2.500.000 đồng, hẹn giao dịch tại khu vực đường T, phường T, quận L, Hà Nội. H không biết nhân thân, lai lịch người này. Cơ quan điều tra đã dẫn giải H xác định vị trí mua ma tuý tại khu vực đường T, kiểm tra, rà soát camera, nhân chứng khu vực này nhưng không phát hiện được thông tin liên quan đến đối tượng. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh (BL 99, 100, 112-115).

Đối với Nguyễn Thị Thu N, N là người có quyền quản lý, sử dụng căn hộ 1002, Tòa R, Chung cư T, tuy nhiên quá trình Huấn tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, chị N không biết, không liên quan đến việc H cất giấu và sử dụng ma tuý. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý (BL 160-176).

Đối với Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn Ổ, T1 và Ổ đều không biết và không cùng Nguyễn Duy H tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý (BL 177-180, 183-187).

Đối với Nguyễn Hùng T, lời khai ban đầu xác định khi tỉnh dậy T được H chỉ đĩa ma tuý sử dụng nhưng sau đó quá trình điều tra, T khai nhận tự thấy ma tuý để sẵn, không được ai bảo sử dụng ma tuý. Nguyễn Duy H không thừa nhận việc mời T sử dụng ma tuý. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý H về hành vi: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (BL 95A, 95B, 96-98, 139-143).

Đối với hai người phụ nữ bạn xã hội của Nguyễn Duy H, do H không biết nhân thân, lai lịch hai người này nên không đủ căn cứ để điều tra, xác minh (BL 83-86, 88, 89).

Quá trình điều tra, Nguyễn Duy H khai nhận rõ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, người liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 114/CT - VKS ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm bị cáo Nguyễn Duy H bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đi Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Duy H khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Duy H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Duy H mức án từ tháng đến 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Tòa tuyên:

  • + Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong trên có chữ kí giáp lai của Nguyễn Duy H, cán bộ Trần Đăng K1, giám định viên Lê Khắc N1; 01 gói niêm phong bằng giấy niêm phong trên có chữ ký giáp lai của Nguyễn Duy H, cán bộ Trần Đăng K1, Nguyễn Thanh T2, Phạm Tuấn T3, Dương Văn T4; 01 loa màu đen.
  • + Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy, tại thời điểm bàn giao máy bị khoá màn hình, không có mật khẩu mở máy;
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 promax màu vàng, số Imei: 353730394550482, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy; 01 tờ tiền Thái Lan, mệnh giá 20 THB (trong 01 gói niêm phong bằng giấy niêm phong có chữ ký giáp lai của các cán bộ Nguyễn Thanh T2, Trần Đăng K1, Dương Văn T4, Phạm Tuấn T3 và bị cáo Nguyễn Duy H).

Lời nói sau cùng bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 30/12/2023, tại căn hộ A, Tòa R, Chung cư T, phường M, quận N, TP Hà Nội, Nguyễn Duy H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,972 gam (19,44%) ma tuý loại Methamphetamine và 0,466 gam (2,33%) ma tuý loại Ketamine để sử dụng. Tổ công tác Công an phường X đã kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình cất giấu ma túy để sử dụng. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình - được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên: Xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm là:

  • + 02 phong bì niêm phong trên có chữ kí giáp lai của Nguyễn Duy H, cán bộ Trần Đăng K1, giám định viên Lê Khắc N1; 01 gói niêm phong bằng giấy niêm phong trên có chữ ký giáp lai của Nguyễn Duy H, cán bộ Trần Đăng K1, Nguyễn Thanh T2, Phạm Tuấn T3, Dương Văn T4; 01 loa màu đen – cần tịch thu tiêu huỷ;
  • + 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy, tại thời điểm bàn giao máy bị khoá màn hình, không có mật khẩu mở máy – không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo H.
  • + 01 điện thoại Iphone 12 promax màu vàng, số Imei: 353730394550482, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy; 01 tờ tiền Thái Lan, mệnh giá 20 THB (trong 01 gói niêm phong bằng giấy niêm phong có chữ ký giáp lai của các cán bộ Nguyễn Thanh T2, Trần Đăng K1, Dương Văn T4, Phạm Tuấn T3 và bị cáo Nguyễn Duy H) – cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Duy H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 30/12/2023 đến ngày 05/02/2024.

Xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong trên có chữ kí giáp lai của Nguyễn Duy H, cán bộ Trần Đăng K1, giám định viên Lê Khắc N1; 01 gói niêm phong bằng giấy niêm phong trên có chữ ký giáp lai của Nguyễn Duy H, cán bộ Trần Đăng K1, Nguyễn Thanh T2, Phạm Tuấn T3, Dương Văn T4; 01 loa màu đen.
  • + Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy, tại thời điểm bàn giao máy bị khoá màn hình, không có mật khẩu mở máy;
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 promax màu vàng, số Imei: 353730394550482, gắn 01 sim vật lý, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy; 01 tờ tiền Thái Lan, mệnh giá 20 THB (trong 01 gói niêm phong bằng giấy niêm phong có chữ ký giáp lai của các cán bộ Nguyễn Thanh T2, Trần Đăng K1, Dương Văn T4, Phạm Tuấn T3 và bị cáo Nguyễn Duy H).

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 196 ngày 07/5/2024 và tại Kho bạc Nhà nước N2 đang quản lý theo biên bản giao nhận tài sản ngày 09/5/2024).

Bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Q.Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an Q.Nam Từ Liêm;
  • - TT lý lịch-Sở Tư pháp TP . Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Q.Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thúy Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 154/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger