Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HS-ST

Ngày: 19-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Ngọc Cúc;

2. Ông Huỳnh Bình.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thiện Đ, sinh ngày 24/8/1997 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 8/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Phật. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Thiện C, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 16/10/2017, bị Công an xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đ chưa thi hành quyết định, nhưng đã hết thời hiệu thi hành.

    Bị bắt và bị giam giữ từ ngày 13/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

  2. Họ và tên: Yến Hoàng Khánh Q, sinh ngày 02/12/2002 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp A, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 8/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Phật. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Yến Đặng G, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị B, sinh năm 1965. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Đầu thú và bị giam giữ từ ngày 13/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

  3. Họ và tên: Nguyễn Văn C1, sinh ngày 16/7/1998 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Không có. Nơi ở hiện tại: Ấp A, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết). Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt người phạm tội quả tang từ ngày 12/8/2024 và giam giữ đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

  4. Họ và tên: Trịnh Công H, sinh năm 2002 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Không có. Nơi ở hiện tại: Ấp A, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 4/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Họ và tên cha: Không rõ. Họ và tên mẹ: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1977. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 04/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trịnh Công H chưa chấp hành.

    Bị bắt người phạm tội quả tang từ ngày 12/8/2024 và giam giữ đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phan Văn V, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

  2. Ông Dương Trị A, sinh năm 1985.

    Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

  3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960.

    Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thiện Đ thường sử dung ma túy đá. Vào khoảng đầu tháng 8/2024, Đ nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ bán cho người nghiện trên địa bàn thị trấn V để kiếm lời. Đ vào trang mạng Internet liên hệ mua kéo, cân tiểu ly, ống hút nhựa, quẹt gas để phục vụ việc phân chia ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 11/8/2024, Đ sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Đ” tạo trên điện thoại di động Samsung A02S gắn sim số 0398.314.875 gọi cho đối tượng tên H1 hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá. Hiệp đồng ý và hẹn Đ đến khu vực ngã tư T thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giao dịch mua bán ma túy. Sau đó Đ đón xe buýt đến điểm hẹn đưa cho H1 3.000.000 đồng và nhận một túi zip cuộn trong một tờ giấy, bên trong chứa ma túy đá. Đ cất số ma túy vào túi quần đón xe buýt về nhà tại khu phố A, thị trấn V, huyện V. Đ để ma túy vào chiếc hộp và cất giấu trong nhà. Ngày 11 và 12/8/2024, Nguyễn Thiện Đ 02 lần bán ma túy cho Yến Hoàng Khánh Q, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 11/8/2024, Q sử dụng tài khoản zalo “Hoàng Khánh Q” tạo trên số điện thoại 0964.229.xxx gọi zalo cho Đ hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá về sử dụng, Đ đồng ý và hẹn Q đến nhà Đ để lấy ma túy. Sau đó Đ dùng cân tiểu ly tách chia một phần ma túy từ số ma túy mua của H1 và cho vào đoạn ống hút nhựa, dùng quẹt gas hàn kín hai đầu rồi đi ra cổng nhà đứng đợi. Một lúc sau, Q đến lấy ma túy và giao trả cho Đ số tiền 300.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 21 giờ ngày 12/8/2024, Yến Hoàng Khánh Q, Nguyễn Văn C1 và Trịnh Công H đang ở tại ấp A, xã M, huyện V rủ nhau mua ma túy về cùng sử dụng, nhưng do không có tiền nên thống nhất sẽ bán điện thoại di động của H để lấy tiền mua ma túy, Q và C1 sẽ hoàn trả lại tiền cho H sau. Sau khi bàn bạc thống nhất, H đi bộ đến ấp B, xã M mượn xe mô tô gắn biển số 61F3-1738 của anh Phan Văn V - sinh năm 1988. H giao xe cho C1 điều khiển xe chở H đến Cửa hàng điện thoại di động Trị An M tại khu phố E, thị trấn V, huyện V do anh Dương Trị A làm chủ bán điện thoại di động Realme 8 được 800.000 đồng. Sau đó C1 gọi cho Q qua ứng dụng M1 thông báo H đã bán điện thoại và nói Q gọi cho Đ mua ma túy. Q sử dụng tài khoản zalo “Hoàng Khánh Q” gọi đến tài khoản zalo “Nguyễn Đ” hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Đ đồng ý bán và hẹn Q đến nhà của Đ để nhận ma túy. Đ vào nhà sử dụng cân tiểu ly chia nhỏ ma túy và đổ vào đoạn ống hút nhựa, dùng quẹt gas hàn kín hai đầu rồi ra trước nhà đứng đợi. Một lúc sau C1 chở H đến gặp Đ, H xuống xe đưa cho Đ 500.000 đồng và nhận một đoạn ống hút nhựa bên trong chứa ma túy đá. H cầm ma túy trên tay phải rồi lên xe Cu chở về.

Khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, C1 điều khiển xe mô tô gắn biển số 61F3-1738 chở H lưu thông trên đường P thuộc khu phố C, thị trấn V, huyện V thì bị lực lượng Tổ tuần tra 161 Công an huyện V yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện Cu và H tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

Lúc 02 giờ 15 phút ngày 13/8/2024, Yến Hoàng Khánh Q đến Công an thị trấn V, huyện V đầu thú. Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Thiện Đ.

Tang vật thu giữ gồm:

  • Thu của Trịnh Công H: 01 đoạn ống hút nhựa, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô biển số 61F3-1738.
  • Thu của Nguyễn Văn C1: 01 điện thoại di động OPPO A77S.
  • Thu của Nguyễn Thiện Đ: 01 túi zip bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa chứa tinh thể màu trắng; 01 cân tiểu ly; 01 kéo; 04 đoạn ống hút nhựa; 01 quẹt gas; 01 điện thoại di động Samsung A02S.
  • Thu của Yến Hoàng Khánh Q: 01 điện thoại di động OPPO A3S.

Anh Dương Trị A - chủ Tiệm điện thoại Trị An M tự nguyện giao nộp điện thoại di động Realme 8 đã mua của Trịnh Công H và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột của Nguyễn Thiện Đ tự nguyện nộp lại 800.000 đồng, đây là số tiền có được do Đ bán ma túy trong các ngày 11 và 12/8/2024.

Kết luận giám định chất ma túy số 1609/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Trịnh Công H là ma túy, có khối lượng 0,323 gam, loại Metamphetamine.
  • - Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Thiện Đ là ma túy, có khối lượng 2,441 gam, loại Metamphetamine.
  • + Kết quả xác minh xe mô tô gắn biển số 61F3-1738 không xác định được số khung, có số máy LC150FMG01786344; biển số 61F3-1738 được cơ quan có thẩm quyền cấp để gắn vào xe mô tô hiệu Kawasaki số khung AN090GA27294, số máy AN090GEA27294 không phải của xe trên. Nguồn gốc xe mô tô gắn biển số 61F3-1738 do Trịnh Công H mua của người không rõ họ, tên, địa chỉ với giá 1.000.000 đồng vào khoảng tháng 6/2024. Đến tháng 8/2024, H bán lại xe cho anh Phan Văn V với giá 600.000 đồng, xe không có chứng nhận đăng ký. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển giao xe mô tô gắn biển số 61F3-1738 cho Công an huyện tiếp tục xác minh, xử lý là đúng quy định pháp luật.

Tại cáo trạng số 153/CT-VKSVC, ngày 30 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố các bị cáo:

Nguyễn Thiện Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Yến Hoàng Khánh Q, Nguyễn Văn C1, Trịnh Công H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiện Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;

Tuyên bố bị cáo Yến Hoàng Khánh Q, Nguyễn Văn C1, Trịnh Công H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Q, bị cáo C1 mỗi bị cáo từ 12 đến 14 tháng tù; bị cáo H từ 14 đến 16 tháng tù.

Về án phí buộc các bị cáo phải chịu.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Vào các ngày 11 và 12/8/2024, tại khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thiện Đ thực hiện các hành vi: 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Yến Hoàng Khánh Q, tàng trữ trái phép 2,441 gam ma túy loại Methamphetamine để bán lại cho người khác.

Ngày 12/8/2024, tại khu phố C, thị trấn V, huyện V, Yến Hoàng Khánh Q cùng Nguyễn Văn C1 và Trịnh Công H thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,323 gam Methamphetamine mục đích sử dụng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm khác.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thiện Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của Yến Hoàng Khánh Q, Nguyễn Văn C1, Trịnh Công H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo C1, Q chưa có tiền án tiền sự; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đều là nạn nhân của ma túy; bị cáo Q ra đầu thú, bị cáo C1 không biết chữ, các bị cáo khác trình độ học vấn thấp; gia đình bị cáo Đ có công với Cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để các bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

[4] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, quyết định hình phạt và biện pháp ngăn chặn:

Nguyễn Thiên Đ1 có hành vi bán ma túy nhiều lần. Yến Hoàng Khánh Q, Nguyễn Văn C1, Trịnh Công H vai trò đồng phạm giản đơn, rủ nhau mua ma túy về cùng sử dụng, C1 chở H đang cầm ma túy trên tay thì bị phát hiện, bắt giữ; 03 bị cáo bị truy tố về cùng tội danh, bị cáo Q chưa có tiền án, tiền sự và ra đầu thú nên hình phạt nhẹ nhất; bị cáo C1 chưa có tiền án tiền sự nên hình phạt nhẹ hơn bị cáo H.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của từng bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.

[5] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Đối với xe mô tô gắn biển số 61F3-1738, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 1609/KL-KTHS; 01 cân tiểu ly, 01 kéo, 04 đoạn ống hút nhựa và 01 quẹt gas.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung A02S, 01 điện thoại di động OPPO A77S và 01 điện thoại di động OPPO A3S thu giữ là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả lại bị cáo Trịnh Công H 01 điện thoại đi động Realme 8 vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

[6] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với người tên H1 có hành vi bán ma túy cho Đ1 hiện chưa xác định được, yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với Phan Văn V không biết H sử dụng xe mô tô đi mua ma túy; Dương Trị A mua điện thoại của H nhưng không biết mục đích H bán điện thoại lấy tiền để mua ma túy, nên không có cơ sở xử lý V và A về hành vi này.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải nộp.

[8] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiện Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Tuyên bố các bị cáo Trịnh Công H, Nguyễn Văn C1, Yến Hoàng Khánh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Hình phạt và biện pháp ngăn chặn:

    2.1. Hình phạt:

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Trịnh Công H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 123/8/2024.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.

    Xử phạt bị cáo Yến Hoàng Khánh Q 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2024.

    2.2. Biện pháp ngăn chặn:

    Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Thiện Đ, Trịnh Công H, Nguyễn Văn C1, Yến Hoàng Khánh Q theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 1609/KL-KTHS ngày 16/8/2024; 01 cân tiểu ly, 01 kéo, 04 đoạn ống hút nhựa và 01 quẹt gas.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung A02S, 01 điện thoại di động OPPO A77S, 01 điện thoại di động OPPO A3S.

    Trả lại bị cáo Trịnh Công H 01 điện thoại đi động Realme 8 vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

    (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 0004334 cùng ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Cửu).

  4. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc các bị cáo Nguyễn Thiên Đ1, Yến Hoàng Khánh Q, Nguyễn Văn C1, Trịnh Công H mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Trịnh Viết Dược

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 154/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger