|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 154/2024/HS-ST Ngày: 08/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Thành Công; bà Dương Thị Tố Như.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hòa; ông Nguyễn Thành T – Là Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Chế Đình V; sinh năm 1997; nơi sinh: Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: Số D đường L, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Số C đường Y, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Chế Xuân H, sinh năm 1957 và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1961; trú tại phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Minh Đ, sinh năm 1975 (đã chết). Đại diện gia đình bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968; trú tại: Số G Quốc lộ B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Là chồng bà Đ - Có mặt).
- Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2; địa chỉ: Số D đường B, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Thanh N1, sinh năm 1976; trú tại: Số D Đường B, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).
- Người làm chứng: Anh Phạm Công D, sinh năm 2001, trú tại: Hẻm B đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chế Đình V là lái xe của công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (viết tắt là Công ty T2); địa chỉ: Số D đường B phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vào ngày 22/06/2024, Công ty T2 giao nhiệm vụ cho V lái xe ô tô tải hiệu Isuzu, biển số 49H-028.63, trọng tải 2.250 kg đi giao hàng trên địa bàn thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cùng đi trên xe còn có anh Phạm Công D, là nhân viên giao hàng ngồi bên ghế phụ. Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, V điều khiển xe ô tô biển số 49H-028.63 đi đến Km 113 + 500, thuộc địa bàn xã L, thành phố B. Lúc này V quan sát phía trước thấy 01 xe ô tô con, loại 04 chỗ lưu thông cùng chiều đi chậm lại, thấy vậy Vĩnh bật đèn xi nhan và điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang làn đường bên phải để vượt xe ô tô 04 chỗ. Khi V vừa cho xe chuyển hướng sang bên phải thì phát hiện xe mô tô 49K1-190.92, do ông Nguyễn Văn N điều khiển chở bà Nguyễn Thị Minh Đ (vợ ông N), ngồi phía sau đang dừng bên lề đường phải. Do khoảng cách quá gần nên phần đầu bên phải xe ô tô do V điều khiển đã va chạm vào phần đuôi xe mô tô do ông N điều khiển, đẩy xe mô của ông N về phía trước khoảng hơn 10 mét mới dừng lại. Hậu quả làm ông N và Đ bị ngã xuống mặt đường, được người dân đưa đi cấp cứu nhưng bà Đ đã tử vong tại Bệnh viện I, riêng ông N chỉ bị thương nhẹ, xe mô tô 49K1-190.92 bị hư hỏng.
Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn, Phòng C Công an tỉnh L đã phối hợp với Công an thành phố B và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tổ chức khám nghiệm hiện trường xác định, vụ tai nạn xảy ra tại Km 113+500m Quốc lộ B, xã L, thành phố B. Lấy mép đường bên phải theo hướng từ Đ đi thành phố Hồ Chí Minh làm mép đường chuẩn và làm hướng khám nghiệm; lấy trụ điện số 474/201A nằm bên lề đường trái làm mốc cố định ghi nhận vị trí, các dấu vết như sau:
Mặt đường Quốc lộ 20 được trải nhựa bằng phẳng rộng 15m, dốc xuống theo hướng Đ đi Thành phố Hồ Chí Minh. Ở giữa đường có vạch sơn liền nét màu vàng kẻ tim đường, phần đường bên phải theo hướng mô tả rộng 7,55m, có vạch sơn đứt đoạn màu trắng phân chia làn đường, làn đường trong cùng rộng 3,9m. Hai bên đường không có vỉa hè, cỏ cây mọc rậm rạp. Sau tai nạn trên mặt đường để lại 02 vết cày xước và 01 vết chà lốp. Vết cày xước thứ nhất nằm trên phần đường bên phải theo hướng mô tả, dạng đứt đoạn dài 8,7m. Điểm đầu vết cày xước thứ nhất cách mép đường chuẩn 1,36m, cách mốc cố định 29,7m; điểm cuối vết cày xước thứ nhất cách mép đường chuẩn 0,5m. Vết cày xước thứ hai nằm bên lề đường phải theo hướng mô tả, dạng liền nét dài 2,4m. Điểm đầu vết cày xước thứ hai cách mép đường chuẩn 0,45m, cách điểm đầu vết chà lốp 7,95m; điểm cuối vết cày xước thứ hai cách mép đường chuẩn 0,3m. Vết chà lốp nằm bên lề đường phải theo hướng mô tả, dạng liền nét dài 8,5m. Điểm đầu vết chà lốp nằm ngay mép đường chuẩn, cách điểm đầu vết cày xước thứ nhất 5,3m, điểm cuối vết chà lốp cách mép đường chuẩn 0,3m. Xe ô tô 49H-028.63 dừng ở phần đường bên phải theo hướng mô tả, đầu xe quay về hướng Thành phố Hồ Chí Minh, đuôi xe quay hướng Đ, hình chiếu tâm đầu trục bánh trước bên phải xe xuống mặt đường, cách mép đường chuẩn 0,05m; hình chiếu tâm đầu trục bánh sau bên phải xuống mặt đường nằm ngay mép đường chuẩn, cách điểm đầu vết cày xước thứ 2 là 4,7m. Xe mô tô 49K1-190.92 bị đổ nghiêng sang bên phải, nằm dưới gầm xe ô tô tải; đuôi xe quay về hướng Đ, đầu xe quay hướng Thành phố Hồ Chí Minh, hơi xiên vào lề đường phải. Hình chiếu tâm đầu trục bánh trước xe mô tô xuống mặt đường cách mép đường chuẩn 0,15m, cách tâm đầu trục bánh trước bên phải xe ô tô 1,7m; hình chiếu tâm đầu trục bánh sau xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 0,7m.
Theo kết luận giám định tử thi ngày 05/07/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận, nguyên nhân làm bà Nguyễn Thị Minh Đ chết là do suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do đa chấn thương.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại 01 xe ô tô biển số 49H-028.63, cùng giấy tờ liên quan cho ông Ngô Thanh N1; trả lại 01 xe mô tô biển số 49K1-190.92 cùng giấy tờ cho ông Nguyễn Văn N. Hiện đang tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng B2 của Chế Đình Vĩnh . Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn bị cáo Chế Đình V đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 270.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn N không yêu cầu gì thêm và viết đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKSBL, ngày 25 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Chế Đình V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Chế Đình V từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Về xử lý vật chứng, đề nghị trả cho bị cáo V 01 giấy phép lái xe. Về trách nhiệm dân sự, buộc người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty T2 phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền sửa chữa chiếc xe mô tô biển số 49K1-190.92 bị hư hỏng là 7.500.000 đồng.
Bị cáo Chế Đình V khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại diện gia đình bị hại, ông Nguyễn Văn N yêu cầu Công ty T2 bồi thường cho ông số tiền sửa chữa chiếc xe mô tô biển số 49K1-190.92 bị hư hỏng là 7.500.000 đồng, đại diện Công ty T2 là ông Ngô Thanh N1 đồng ý bồi thường. Riêng đối với bị cáo V, đại diện gia đình bị hại (ông N) không yêu cầu gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Chế Đình V, đại diện gia đình bị hại, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
[2] Về căn cứ xác định tội: Tại phiên toà, bị cáo Chế Đình V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai nhân chứng, vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Chế Đình V là nhân viên hợp đồng của Công ty T2. Ngày 22/06/2024, V được Công ty T2 giao nhiệm vụ lái chiếc xe ô tô tải biển số 49H-028.63 đi giao hàng trên địa bàn thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Khi xe ô tô do V điều khiển đi đến Km 113 + 500 Quốc lộ B, theo hướng từ Đ đi Thành phố Hồ Chí Minh thì V nhìn thấy 01 xe ô tô con (loại 04 chỗ) lưu thông cùng chiều ngay phía trước đi chậm lại. Thấy vậy nhưng bị cáo đã chủ quan, không giảm tốc độ mà điều khiển xe chuyển hướng sang làn đường bên phải để vượt xe ô tô cùng chiều. Vì vậy, khi phát hiện xe mô tô 49K1-190.92 do ông Nguyễn Văn N điều khiển chở vợ là bà Nguyễn Thị Minh Đ đang dừng bên lề đường phải chờ qua đường, đi về nhà thì khoảng cách đã quá gần. Vì vậy phần đầu bên phải xe ô tô do bị cáo V điều khiển đã tông vào xe mô tô do ông N điều khiển, đẩy xe mô tô của ông N về phía trước khoảng 10 mét mới dùng lại; hậu quả làm ông N và bà Đ bị té xuống lề đường, bà Đ bị thương tích nặng, sau đó tử vong.
Như vậy, hành vi của bị cáo Chế Đình V đã vi phạm Điều 14 Luật giao thông đường bộ, phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Bị cáo Chế Đình V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi vô ý. Bị cáo đã được học luật giao thông đường bộ và biết rõ, người lái xe chỉ được vượt xe ô tô về phía bên trái khi không có chướng ngại vật và được xe phía trước ra tín hiệu cho vượt, nhưng bị cáo đã không chấp hành; từ đó đã gây tai nạn giao thông, gây nên cái chết cho bà Nguyễn Thị Minh Đ. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà còn gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chế Đình V là người có nhân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, được gia đình bị hại viết đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có việc làm và nơi cư trú ổn định nên không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 chiếc xe liên quan đến tai nạn, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không đề cập đến. Riêng đối với 01 giấy phép lái xe của bị cáo V đang tạm giữ thì trả lại cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Chế Đình V đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 270.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn N không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến. Riêng đối với chiếc xe mô tô biển số 49K1-190.92 của ông Nguyễn Văn N bị hư hỏng, tại phiên tòa ông N yêu cầu Công ty T2 bồi thường số tiền sửa chữa chiếc xe là 7.500.000 đồng, đại diện Công ty T2 là ông Ngô Thanh N1 đồng ý bồi thường nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố, bị cáo Chế Đình Vĩnh P vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Chế Đình V 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chế Đình V cho Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trả lại cho bị cáo Chế Đình V 01 giấy phép lái xe (Đã trả).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự 2015, buộc Công ty TNHH T2 bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Chế Đình V phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; Công ty TNHH T2 phải chịu 375.000đ (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁ- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chế Đình V- Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
