|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 154/2024/HS-ST
Ngày 24 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và ông Nguyễn Văn Khoát.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Việt C, sinh năm 1991 tại Thừa Thiên Huế; nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: Tổ dân phố N, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Trần Thị Kim G; vợ: Nguyễn Thị L; con: Có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 24/6/2024 đến nay; có mặt.
* Người làm chứng: Ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1965. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, C đi bộ từ nhà trọ đến khu vực cầu Châu Sơn thuộc tổ 5, phường L, thành phố P để tìm mua ma tuý sử dụng. Tại đây, C gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch), trong lúc nói chuyện thì C hỏi “anh ơi có hàng không” (ý C hỏi mua ma tuý), người đàn ông hỏi lại “mua bao nhiêu”, C lấy 300.000₫ đưa cho người này, người này cầm tiền và bảo C đứng đợi rồi điều khiển xe mô tô đi đâu khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho C 01 gói giấy bạc màu trắng. Biết là gói ma tuý nên C không mở ra kiểm tra mà cầm cất vào túi quần bên phải phía trước, sau đó đi bộ tìm chỗ sử dụng. Khi C đi được một đoạn thì gặp tổ công tác Công an phường L, thành phố P trên đường làm nhiệm vụ phát hiện thấy biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ C tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là gói ma tuý của C vừa mua, mục đích cất giữ là để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa C cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chưa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Cùng ngày, Công an phường L, thành phố P đã bàn giao toàn bộ hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng Lê Việt C cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (viết tắt là CSĐT) - Công an thành phố Phủ Lý để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 16/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Lê Việt C tại tổ dân phố N, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 442/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,203g (không phẩy hai trăm linh ba gam), loại Heroine (Heroin)".
Tại bản cáo trạng số 146/CT-VKS-PL ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Lê Việt C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Việt C như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):
+ Tuyên bố bị cáo Lê Việt C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Lê Việt C từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói.
+ Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, tại khu vực tổ 5, phường L, thành phố P, Lê Việt C đang cất giấu trái phép 0,203 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường L, thành phố P phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố đối với Lê Việt C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, làm mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm, song xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Xét mục đích bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy loại Heroine được niêm phong trong phong bì số 442/KTHS là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Lê Việt C: Bị cáo khai số ma túy trên là của người đàn ông không quen biết tại khu vực tổ 5, phường L, thành phố P, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp với Công an phường L, thành phố P xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Việt C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Xử phạt: Bị cáo Lê Việt C 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2024.
3/ Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 442/KLHS, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).
4/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Việt C phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |
Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 154/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Việt C - Tàng trữ trái phép chất ma túy
