Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HS-ST

Ngày 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngọc

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Quyết

Ông Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lương Đình Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu xét xử trực tuyến Toà án nhân dân quận K, thành phố Hà Nội và điểm cầu xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy D, sinh năm 1968, tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số 50 H, phường H, quận K, Hà Nội; Nơi cư trú: Số 55 ngõ 61 N, phường Pn, quận K, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy T (đã chết) và bà Trần Thúy Q(đã chết); Vợ là Phạm Thị Q1 đã ly hôn và có 03 con; Theo danh chỉ bản số 232 do Công an quận K lập ngày 26/2/2024 và lý lịch địa phương cung cấp: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về nhân thân:

- Năm 1987 bị xử phạt Cảnh cáo về hành vi “Cưỡng dâm người chưa thành niên".

- Ngày 16/4/2014 Công an phường Phh, quận K xử phạt 1.500.000 đồng về việc “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/4/2024 đến ngày 27/04/2024, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Trọng Q, sinh năm 1991. Địa chỉ: N, phường D, quận K, Hà Nội (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 23/4/2024, tổ công tác Công an phường Hàng Bồ làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện Nguyễn Duy D và Lưu Quang V, sinh năm 1973; Trú tại: 60 ngõ Th1, phường Th1, quận Đ1, Hà Nội đang dừng đỗ xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đỏ đen, BKS: 29C1- 946.29 tại lòng đường trước số 1 Hàng Vải, phường Bồ, quận K, Hà Nội; Hà Trọng Q, sinh năm 1991; Trú tại: 12 HM, phường L quận K, Hà Nội) đang đứng tại vỉa hè gần khu vực số 1 Hàng Vải có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Duy D tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 túi ni lông kích thước 4x5 cm chứa thảo mộc khô từ trong túi quần bên phải và khai nhận là ma túy “cần sa” đang mang đi bán cho Hà Trọng Q để kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật về trụ sở Công an giải quyết.

* Thu giữ của Nguyễn Duy D:

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đỏ đen, BKS: 29C1 – 946.29 đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại Oppo màu xanh đen đã qua sử dụng, kèm sim số 0362022568 và 0985845658;

* Thu giữ của Hà Trọng Q:

- 01 điện thoại di động Oppo A7 đã qua sử dụng kèm sim số 0838968084;

- Số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.00 đồng, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng.

* Thu giữu của Lưu Quang V: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3 Pro đã qua sử dụng, kèm sim số 0912536374

Kiểm tra điện thoại thu giữ của Nguyễn Duy D và hà Trọng Quang có cuộc gọi, tin nhắn trao đổi mua bán ma túy; Điện thoại của Lưu Quang V không có nội dung liên quan liên quan đến ma túy

Tại kết luận giám định số 3088/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Thảo mộc khô bên trong 01 túi ni lông là Cần sa, khối lượng 3,830 gam”.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy D khai: Tối ngày 22/4/2024, D gặp bạn xã hội tên Long (không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại) tại khu vực ngã tư Tạ Hiện, phường H, quận K, Hà Nội. Tại đây, Long báo có đứa em xã hội cần mua ma túy Cần sa, D đồng ý bán. Đến khoảng 18 giờ 20 phút ngày 23/4/2024, D đang ở nhà uống rượu cùng Lưu Quang V thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0838.968.xxx của Hà Trọng Q giới thiệu là người quen của Long, hỏi mua 01 gói Cần sa và hẹn giao ma túy đến số 1 V, phường B, quận K, Hà Nội. D báo giá 300.000 đồng (gồm 150.000 đồng tiền ma túy bà 150.000 đồng tiền công vận chuyển). Sau đó D đi bộ một mình đến khu vực gầm cầu D mua 01 gói ma túy Cần sa với giá 150.000 đồng của một nam thanh niên không quen biết. Sau khi mua được ma túy, D cất vào túi quần và đi về nhà. D bảo V đợi ở nhà để D đi giải quyết việc riêng nhưng V nhờ D chở ra ngoài để bắt xe về nhà. D chở V đến điểm hẹn với Quang thì dừng xe. D gọi điện thoại cho Quang để giao ma túy còn V đi bộ ra trước đầu xe máy của D đứng đợi. Khi Quang đi bộ đến chỗ D chuẩn bị giao dịch mua bán ma túy thì bị tổ công tác Công an phường Hàng Bồ kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Nếu bán trót lọt ma túý ma túy, D được hưởng lợi số tiền 150.000 đồng. Ngoài ra D khai V không biết việc D mang theo ma túý để bán kiếm lời. Chiếc điện thoại bị thu giữ D sử dụng để trao đổi mua, bán ma tuý với Hà Trọng Q. Chiếc xe máy bị thu giữ D mượn của em trai là Nguyễn A

Lưu Quang V khai phù hợp lời khai của Nguyễn Duy D. V không biết việc D mang theo ma tuý trong người. Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được không đủ cơ sở kết luận Lưu Quang V đồng phạm với Nguyễn Duy D. Kết quả xét nghiệm Lưu Quang V âm tính với chất ma túy. Ngày 12/7/2024 Cơ quan điều tra đã trao trả cho Lưu Quang V 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J3 Pro đã qua sử dụng, kèm 01 sim điện thoại. Sau khi nhận lại tài sản, V không có yêu cầu gì khác.

Hà Trọng Q khai phù hợp lời khai của Nguyễn Duy D về việc ngày 23/4/2024 Quang hỏi mua 150.000 đồng ma tuý cần sa của Nguyễn Duy D để sử dụng. Tuy nhiên khi D giao ma tuý đến điểm hẹn tại số 1 Hàng Vải, phường Hàng Bồ, quận K, Hà Nội Quang và D chưa kịp giao dịch mua bán ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ như trên. Kết quả xét nghiệm Hà Trọng Q âm tính với chất ma tuý vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý đối với Hà Trọng Q và chuyển chiếc điện thoại thu giữ của Q (liên quan đến việc mua, bán ma túy) để Tòa án giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKS ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hà Nội căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D 26 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong được dán kín, trên các mép. Trên phong bì có chữ ký của Nguyễn Duy D, giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, cán bộ Công an phường Nguyễn Trọng Nghĩa, người liên quan Lưu Quang V và Hà Trọng Q, người chứng kiến Nguyễn Xuân Hiệp bên trong có 01 túi ni lông kích thước 4x4 cm chứa thảo mộc khô có khối lượng 3,830 gam là ma túy loại Cần sa, PC09 thu mẫu giám định 0,684 gam, còn lại 3,146 gam; 03 sim điện thoại số 0362.022.xxx, số 0985845658 và số 0838968084. Đề nghị sung quỹ nhà nước 02 điện thoại đã qua sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội bao gồm: 01 điện thoại Oppo màu xanh đen và 01 điện thoại Oppo A7; Số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bản tự khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 23/4/2024, Nguyễn Duy D đang thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Cần sa, khối lượng 3,830 gam với giá 300.000 đồng cho Hà Trọng Q để sử dụng nhưng chưa giao được ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật tại số 01 Hàng Vải, phường Hàng Bồ, quận K, Hà Nội.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận K, Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Duy D về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá tình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Duy D có nhân thân xấu.

[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt chính và hình phạt bổ sung là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 phong bì niêm phong được dán kín, trên các mép. Trên phong bì có chữ ký của Nguyễn Duy D, giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, cán bộ Công an phường Nguyễn Trọng Nghĩa, người liên quan Lưu Quang V và Hà Trọng Q, người chứng kiến Nguyễn Xuân Hiệp bên trong có 01 túi ni lông kích thước 4x4 cm chứa thảo mộc khô có khối lượng 3,830 gam là ma túy loại Cần sa, PC09 thu mẫu giám định 0,684 gam, còn lại 3,146 gam

+ 03 sim điện thoại số 0362.022.xxx, số 0985845658 và số 0838968084.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội:

+ 01 điện thoại Oppo màu xanh đen đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại Oppo A7 đã qua sử dụng.

+ Số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.00 đồng, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng

[9] Về các vấn đề khác: Về đối tượng Long và đối tượng bán ma túy, Nguyễn Duy D khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại cụ thể, trao đổi, mua ma túy thực hiện trực tiếp. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải, rà soát tuy nhiên không phát hiện camera và nhân chứng chứng kiến sự việc. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiện Honda Blade màu đen đỏ trắng, BKS 29C1-946.29, Nguyễn Duy D khai mượn của em trai là Nguyễn Tuấn Anh. Cơ quan điều tra tiến hành xác định chiếc xa máy trên không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật, chủ đăng ký xa là Nguyễn Tuấn Anh (Sinh năm 1972, trú tại: 50 H, phường H, quận K, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Tuấn Anh khai: Khoảng tháng 12 năm 2021, anh Tuấn Anh mua và đăng ký sử dụng chiếc xe trên. Đến cuối năm 2022, do anh trai là Nguyễn Duy D không có công ăn việc làm nên anh Tuấn Anh cho D mượn để đi làm xe ôm kiếm thêm thu nhập. Anh Tuấn Anh không biết việc D sử dụng chiếc xa trên để thực hiện hành vi mua bán ma túy. Anh Tuấn Anh xuất trình được đầy đủ giấy tờ có liên quan đến chiếc xe nên ngày 12/7/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh A. Sau khi nhận lại tài sản, anh Tuấn anh không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy D bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 phong bì niêm phong được dán kín, có đóng dấu giáp lai của Công an phường Hàng Bồ, có chữ ký xác nhận của Nguyễn Duy D, giám định viên Nguyễn HHg, cán bộ Công an phường Ng, người liên quan: Lưu Quang V và Hà Trọng Q, người chứng kiến NXp, bên trong có 01 túi ni lông thảo mộc khô là ma tuý loại Cần sa có tổng khối lượng thu giữ ban đầu là 3,830 gam, PC09 thu mẫu giám định 0,684 gam, còn lại 3,146 gam.

+ 03 sim điện thoại đã cũ, chất lượng, hiện trạng không rõ.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen máy cũ đã qua sử dụng (theo biên bản tạm giữ của Công an phường Hàng Bồ ngày 23/4/2024: Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, đã qua sử dụng, không rõ tình trạng, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ) thu giữ của Nguyễn Duy D.

+01 (một) điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh máy cũ đã qua sử dụng (theo biên bản tạm giữ của Công an phường Hàng Bồ ngày 24/4/2024: Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, đã qua sử dụng, không rõ tình trạng, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ) thu giữ của Hà Trọng Q).

(Theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 19/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận K, thành phố Hà Nội).

+ Số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.00 đồng, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng tại Giấy nộp tiền mặt ngày 16/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận K, Hà Nội.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Bị cáo Nguyễn Duy D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Văn Ngọc

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND TP Hà Nội (1 bản);
  • -VKSND quận K (3 bản);
  • - Công an quận K (1 bản);
  • - Chi cục THA quận K (1 bản);
  • - Sở Tư pháp (1 bản);
  • - Bị cáo (1 bản);
  • - Người liên quan (1 bản);
  • - Trại tạm giam (1 bản);
  • - Lưu hồ sơ - VP(2 bản).

(Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 154/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy D - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger