Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-7-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Lê Văn Kiệt.

Bà Cao Thị Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 253/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Phan Bảo L, sinh năm 1994 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số B T, Phường I, TP M, Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B T, Phường I, TP M, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Đoàn Phan Bảo LYL trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến cưới nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2021. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, do anh T thường xuyên cờ bạc gây nợ nần, về tình cảm anh T không quan tâm vợ con, mọi chi tiêu trong gia đình đều do chị gánh vác. Chị có khuyên nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Mặc dù đã nhiều lần hàn gắn hạnh phúc nhưng không được. Hiện nay vợ chồng đã ly thân. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên yêu cầu giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Phan Bảo L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

-Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Đoàn Bảo N, sinh ngày 30/11/2021, sau khi ly hôn chị LyL yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Thanh T: Đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật, nhưng vẫn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Chị Đoàn Phan Bảo L xin vắng mặt. Anh Nguyễn Thanh T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều thực hiện đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định. Bị đơn chưa thực hiện đúng sự triệu tập của Toà án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu ly hôn của chị Đoàn Phan Bảo L là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền quan hệ tranh chấp: Chị Đoàn Phan Bảo L và anh Nguyễn Thanh T hôn nhân có thực hiện đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Ngày 10/5/2024 chị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh T, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố M, Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

[1.2] Sự có mặt của đương sự: Bị đơn Nguyễn Thanh T đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về chứng cứ chứng minh: Xét thấy, anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến gì về các chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của chị L. Nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91, 92, 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, các chứng cứ Tòa án thu thập và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Phan Bảo L và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện đi đến hôn nhân, hôn nhân có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2021 ngày 10/11/2021. Hội đồng xét xử xác định, hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Chị L yêu cầu ly hôn với anh T vì cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cự cãi thường xuyên, anh T thường xuyên gây nợ và không gánh vác cuộc sống gia đình, hiện vợ chồng đã ly thân không còn chung sống với nhau, chị đã cố hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Xét thấy, tại phiên tòa chị L xin vắng mặt xét xử và cũng không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện, cho thấy chị L đã kiên quyết ly hôn với anh T. Ngoài ra, từ khi chị L khởi kiện ly hôn đến nay, phía anh T cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với chị L, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị L. Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân giữa chị L và anh T, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh T có 01 con chung là Nguyễn Đoàn Bảo N, sinh ngày 30/11/2021. Chị L yêu cầu cho chị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy, hiện cháu N đang sống cùng với chị L và đang phát triển tốt. Từ khi chị L khởi kiện đến nay, anh T cũng không có ý kiến trình bày về nguyện vọng muốn trực tiếp nuôi con chung. Tại biên bản xác minh ngày 19/6/2024 tại Ủy ban nhân dân phường I, chính quyền địa phương không biết được điều kiện nuôi con chung giữa anh chị. Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu N hiện dưới 36 tháng tuổi, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và ổn định của cháu, cần giao cháu N cho mẹ là chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và lao động được. Về yêu cầu cấp dưỡng, Chị LYL không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị LYL phải chịu án phí hôn nhân gia đình.

[8] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 94, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Phan Bảo L.

- Về hôn nhân: Chị Đoàn Phan Bảo L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đoàn Bảo N, sinh ngày 30/11/2021 cho chị Đ Phan Bảo LYL trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi và lao động được. Anh Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị L không yêu cầu cấp dưỡng.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Đoàn Phan Bảo L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006102 ngày 08/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Đoàn Phan Bảo LYL và anh Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - UBND Phường 9;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.08

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Sắc Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 154/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 154/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Đoàn Phan Bảo L và Nguyễn Thanh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger