|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 154/2024/DSST
Ngày: 26 - 7 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng
- Bà Trần Nguyệt Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 228/2023/DSST ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2024/QĐST-HPT ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXX-DSST ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; Địa chỉ trụ sở: T, Số A T, Phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Ông Phan Đức T, sinh năm 1964, Chức danh: Chủ tịch hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật; Địa chỉ: A, khu P, đường H, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Ông Đinh Quang K, sinh năm 1972, chức vụ: Người đứng đầu Chi nhánh B1 (Nay là Chi nhánh Q Thành phố Hồ Chí Minh); Địa chỉ: Số C đường số A, khu dân cư H, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam làm đại diện theo ủy quyền (Quyết định ủy quyền số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021)
Ông Trần Đức C, sinh năm 1995; Địa chỉ liên hệ: Số E Đ, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 233/QĐ-BIDV.Q3HCM ngày 20/02/2024) là người đại diện theo ủy quyền lại của ông Đinh Quang K. (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: I ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Địa chỉ liên hệ: Số A đường C, Dự án khu nhà ở P, phường P, Quận I (nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Ngọc B, sinh năm 1969; (Vắng mặt)
- Ông Dương Phan Hồng N, sinh năm 1991; (Vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Thu T2, sinh năm 1971; (Vắng mặt)
- Ông Dương Phan Nhựt H, sinh năm 2000; (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A đường C, Dự án khu nhà ở P, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 01 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trình bày:
Ngày 11 tháng 3 năm 2021, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 (nay là BIDV Quận 3 Thành phố H) (gọi tắt là Ngân hàng B) và ông Nguyễn Hoàng T1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2021/15074103/HĐTD và các văn bản sửa đổi bổ sung với số tiền vay là 9.300.000.000 đồng (chín tỷ ba trăm triệu đồng) với mục đích vay là thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 47 bộ địa chính, phường P, Quận I; Địa chỉ số 13 đường C, Dự án khu nhà ở P, Phường P, Quận I (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Thời hạn vay là 240 tháng, lãi suất được xác định theo chế độ lãi suất của Ngân hàng theo từng thời kỳ, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Theo đó, Ngân hàng B đã giải ngân dựa trên các giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng với số tiền là 9.300.000.000 đồng (Chín tỷ ba trăm triệu đồng).
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Nguyễn Hoàng T1 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15074103/HĐBĐ ngày 24 tháng 3 năm 2021 với Ngân hàng B thế chấp tài sản là Thửa đất số 173, tờ bản đồ số 47, Bộ địa chính, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số A đường C, dự án khu N, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Thửa đất đã được Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK099609, số vào số cấp GCN: CS15694/DA ngày 03 tháng 11 năm 2017.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hoàng T1 đã không thực hiện trả nợ như cam kết trong Hợp đồng tín dụng; Giấy đề nghị vay vốn, điều kiện và điều khoản vay nêu trên. Cụ thể từ ngày 16/6/2021, ông Nguyễn Hoàng T1 đã vi phạm hợp đồng tín dụng dù Ngân hàng B đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu ông T1 trả nợ, nhưng ông T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B.
Tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024, ông Nguyễn Hoàng T1 còn nợ Ngân hàng B cụ thể như sau:
- Nợ gốc là 9.182.969.298 đồng.
- Nợ lãi là 4.069.585.280 đồng (lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng)
Tổng dư nợ là 13.252.555.108 đồng (Mười ba tỷ đồng, hai trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ tám đồng).
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng B, Ngân hàng B yêu cầu Toà án nhân dân Quận 5 giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng T1 phải thanh toán nợ cho Ngân hàng B với tổng số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 13.252.555.108 đồng (Mười ba tỷ đồng, hai trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ tám đồng). Bao gồm: Nợ gốc là 9.182.969.298 đồng, tổng nợ lãi tạm tính đến hết ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 4.069.585.280 đồng (lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng). Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
- Buộc ông Nguyễn Hoàng T1 tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi, lãi phạt và phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 và phụ lục phát sinh kể từ ngày 27 tháng 7 năm 2024 cho đến khi ông Nguyễn Hoàng T1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng B.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Hoàng T1 không thanh toán toàn bộ khoản nợ vay thì Ngân hàng B yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tuyên phát mãi tài sản bảo đảm sau để thu hồi toàn bộ khoản nợ tại Ngân hàng: Thửa đất số 173, tờ bản đồ số 47, Bộ địa chính, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số A đường C, dự án khu N, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Thửa đất đã được Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK099609, số vào số cấp GCN: CS15694/DA ngày 03 tháng 11 năm 2017.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Hoàng T1 tại Ngân hàng B. Trường hợp, số tiền thu được từ việc phát mại tài sản không đủ để thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ của ông T1 tại Ngân hàng B thì ông T1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.
Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28 tháng 5 năm 2024, bị đơn - ông Nguyễn Hoàng T1 trình bày:
Ông T1 xác nhận đã ký và thực hiện theo như Hợp đồng tín dụng 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 và phụ lục hợp đồng phát sinh giữa ông T1 và Ngân hàng B. Để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng, ông T1 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15074103/HĐBĐ ngày 14/03/2021 với Ngân hàng B thế chấp tài sản là Thửa đất số 173, tờ bản đồ số
47, Bộ địa chính, phường P, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số A đường C, dự án khu N, phường P, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Thửa đất đã được Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK099609, số vào số cấp GCN: CS15694/DA ngày 03 tháng 11 năm 2017.
Tại buổi hòa giải, ông T1 đồng ý trả hết nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng B với phương án trả nợ như sau:
- Từ ngày 28/05/2024 đến 28/11/2024: ông T1 sẽ trả hết nợ lãi;
- Từ ngày 29/11/2024 đến ngày 29/05/2025: ông T1 sẽ trả hết nợ gốc.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như: Ông Dương Ngọc B, ông Dương Phan Hồng N, bà Phạm Thị Thu T2 và ông Dương Phan Nhựt H trong quá trình giải quyết vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ để ghi tự khai; tham gia phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng T1 phải thanh toán nợ cho Ngân hàng B với tổng số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 13.252.555.108 đồng (Mười ba tỷ đồng, hai trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ tám đồng). Trong đó nợ gốc là 9.182.969.298 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 4.069.585.280 đồng (Trong đó lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc ông Nguyễn Hoàng T1 tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi, lãi phạt và phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 và phụ lục phát sinh kể từ ngày 27 tháng 7 năm 2024 cho đến khi ông Nguyễn Hoàng T1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng B.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Hoàng T1 không thanh toán toàn bộ khoản nợ vay thì Ngân hàng B yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tuyên phát mãi tài sản bảo đảm sau để thu hồi toàn bộ khoản nợ tại Ngân hàng: Thửa đất số 173, tờ bản đồ số 47, Bộ địa chính, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số A đường C, dự án khu N, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Thửa đất đã được Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK099609, số vào số cấp GCN: CS15694/DA ngày 03 tháng 11 năm 2017.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Hoàng T1 tại Ngân hàng B. Trường hợp, số tiền thu được từ việc phát mại tài sản không đủ để thanh toán hết nghĩa
vụ trả nợ của ông T1 tại Ngân hàng B thì ông T1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.
Bị đơn là ông Nguyễn Hoàng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên không có ý kiến trình bày tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như ông Dương Ngọc B, ông Dương Phan Hồng N, bà Phạm Thị Thu T2 và ông Dương Phan Nhựt H trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dưới đây nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không nộp ý kiến trình bày:
- Thông báo về việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng số 228/TB-TLVA ngày 13/3/2024; Giấy triệu tập các số 228-3/GTT-TA, số 228-4/GTT-TA, số 228-5/GTT-TA và số 228-6/GTT-TA cùng ngày 13/3/2024 (đến Tòa án lúc 08 giờ 30 phút ngày 04/4/2024);
- Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 228/2024/TB-TA ngày 06/5/2024; Giấy triệu tập số 288-3/GTT-TA ngày 06/5/2024 (đến Tòa án lúc 08 giờ 30 phút ngày 28/5/2024);
- Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 228-1/TB-TA ngày 28/5/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu:
- + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, tiến hành việc thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Hoàng T1 có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 13.252.555.108 đồng (Mười ba tỷ đồng, hai trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ tám đồng). Trong đó nợ gốc là 9.182.969.298 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 4.069.585.280 đồng (Trong đó lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- + Về án phí dân sự: Bị đơn – ông Nguyễn Hoàng T1 phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho Nguyên đơn – Ngân hàng B. Nguyên đơn – Ngân hàng B được hoàn trả tạm ứng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (gọi tắt là Ngân hàng B) khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Hoàng T1 phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 và các phụ lục phát sinh, bổ sung với số tiền tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 12.074.797.626 đồng (mười hai tỷ, không trăm bảy mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc là 9.182.969.298 đồng, nợ lãi là 2.891.828.328 đồng (lãi quá hạn là 2.651.000.205 đồng, lãi phạt là 240.828.124 đồng) và toàn bộ lãi, lãi phạt và phí phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên tính từ ngày 27 tháng 7 năm 2024 cho đến khi ông Nguyễn Hoàng T1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền: Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết ban đầu tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh B1. Ngày 24/5/2021, theo Quyết định số 417/QĐ-BIDV của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh B1 được thay đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ– Chi nhánh Q Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 09/01/2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ khởi kiện và có Đơn đề nghị lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết tranh chấp. Như vậy, Quận E là nơi các bên ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng nên Tòa án nhân dân Quận 5 là nơi có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa:
[2.1] Nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền đã có Đơn đề ngày 25/7/2024 xin vắng mặt khi Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2.2] Bị đơn – Ông Nguyễn Hoàng T1:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/5/2024, bị đơn là ông Nguyễn Hoàng T1 được Tòa án triệu tập theo địa chỉ số I Ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ ghi trên hợp đồng tín dụng).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/5/2024, bị đơn là ông Nguyễn Hoàng T1 đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng về địa chỉ số A đường C, dự án khu N, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại địa chỉ ông T1 yêu cầu gửi văn bản trên, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ tham gia hai lần xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-DS ngày 03/6/2024 (tham gia phiên tòa lần 01 lúc 08 giờ 30 phút ngày 26/6/2024); Quyết định hoãn phiên toà số 92/2024/QĐST-DS-HPT ngày 26/6/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-DS ngày 26/6/2024 (tham gia phiên tòa lần 02 lúc 08 giờ 30 phút ngày 26/7/2024) và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt.
[2.3] Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/3/2024 cho thấy ông Dương Ngọc B, ông Dương Phan Hồng N, bà Phạm Thị Thu T2 và ông Dương Phan Nhựt H hiện đang cư trú tại địa chỉ số A đường C, dự án khu nhà ở P, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà đất là đối tượng thế chấp trong hợp đồng tín dụng). Tòa án đã ra Thông báo số 228/2024/DSST ngày 13/3/2024 đưa ông Dương Ngọc B, ông Dương Phan Hồng N, bà Phạm Thị Thu T2 và ông Dương Phan Nhựt H vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia hai lần xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-DS ngày 03/6/2024 (tham gia phiên tòa lần 01 lúc 08 giờ 30 phút ngày 26/6/2024); Quyết định hoãn phiên toà số 92/2024/QĐST-DS-HPT ngày 26/6/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-DS ngày 26/6/2024 (tham gia phiên tòa lần 02 lúc 08 giờ 30 phút ngày 26/7/2024) và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3.] Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về yêu cầu khởi kiện:
[4.1] Về hợp đồng tín dụng:
+ Về khoản nợ gốc 9.182.969.828 đồng:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 giữa nguyên đơn và bị đơn về việc cho bị đơn vay với số tiền là 9.300.000.000 đồng với lãi suất là 8.3%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân đầu tiên (11/3/2021); sau 12 tháng đầu tiên thì áp dụng lãi suất thả nổi bằng lãi suất tiết kiệm cá nhân 24 tháng lãi trả sau do nguyên đơn quy định + biên độ tối thiểu 4.0%/năm. Sau đó, lãi suất thay đổi (theo quy định trên) định kỳ 06 tháng/ lần vào các ngày 01/02 và 01/8 hàng năm; lãi suất quá hạn áp dụng đối với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn vay là 240 tháng. Mục đích vay là thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 47 bộ địa chính, phường P, Quận I; Địa chỉ số 13 đường C, Dự án khu nhà ở P, Phường P, Quận I (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/5/2024, bị đơn là ông Nguyễn Hoàng T1 xác nhận đã ký và thực hiện theo như Hợp đồng tín dụng 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 và phụ lục hợp đồng phát sinh giữa ông T1 và Ngân hàng B.
Căn cứ Bảng kê rút vốn ngày 11/3/2021 do ông Nguyễn Hoàng T1 ký, xác định Ngân hàng B đã giải ngân số tiền 9.300.000.000 đồng (Chín tỷ ba trăm triệu đồng) vào số tài khoản người thụ hưởng “PHAM QUOC TRI – Số tài khoản 13910000243771 – Ngân hàng B CN BÌNH TÂY SÀI GÒN” ngày 11/3/2021.
Tại buổi hòa giải, ông T1 đồng ý trả hết nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng B với phương án trả nợ như sau: Từ ngày 28/05/2024 đến 28/11/2024: ông T1 sẽ trả hết nợ lãi; Từ ngày 29/11/2024 đến ngày 29/05/2025: ông T1 sẽ trả hết nợ gốc. Tại thời điểm hòa giải, Ngân hàng B tính số nợ gốc là 9.183.750.000 đồng. Căn cứ bản tự khai và bảng tính lãi ngày 26/7/2024 do Ngân hàng B cung cấp thể hiện ông T1 đã thanh toán được 03 kỳ nợ gốc vào các ngày 20/4/2021, 28/5/2021, 15/6/2021 với mỗi kỳ là 38.750.000 đồng/kỳ; ngày 11/9/2023 ông T1 thanh toán số tiền 780.702 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng B là 117.030.702 đồng. Như vậy, nợ gốc tính đến thời điểm ngày 26/7/2024 ông T1 còn nợ là:
9.300.000.000 đồng - 117.030.702 đồng = 9.182.969.828 đồng.
Do Ngân hàng B không đồng ý với phương án trả nợ của ông T1 đưa ra tại buổi hòa giải và ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền từ thời điểm tháng 3 năm 2022 mặc dù Ngân hàng B đã nhiều lần nhắc nhở nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B đối với số tiền nợ gốc là 9.182.969.828 đồng (chín tỷ một trăm tám mươi hai triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).
+ Về số tiền nợ lãi tạm tính đến hết ngày 26 tháng 7 năm 2024 tổng cộng là 4.069.585.280 đồng gồm: lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Lãi trong hạn 881.539.356 đồng:
Căn cứ Bảng tính lãi suất tiền vay do Ngân hàng B lập ngày 26/7/2024 thì tiền lãi trong hạn của ông T1 từ thời điểm 11/3/2021 (thời điểm giải ngân) tính đến ngày 12/7/2022 là: 881.539.356 đồng. Cụ thể: Lãi suất trong hạn = Dư nợ gốc x lãi suất/365 ngày x số ngày nợ. Trong quá trình từ khi giải ngân đến ngày 12/7/2022 (trước ngày chuyển nợ quá hạn), Ngân hàng B áp dụng 02 mức lãi suất: Từ ngày 11/3/2021 đến 10/3/2022 áp dụng mức lãi suất 8,3%/năm theo hợp đồng tín dụng số 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021; Từ ngày 11/3/2022 đến 12/7/2022 áp dụng mức lãi suất 10,3%/năm theo Thông báo thay đổi lãi suất số 013 ngày 10/3/2022 do Ngân hàng B phát hành.
| Ngày giao dịch | Số dư nợ gốc (VNĐ) | Lãi suất/năm | Số ngày nợ | Nợ lãi đến hạn (VNĐ) | Số tiền lãi đã trả (VNĐ) |
|---|---|---|---|---|---|
| 11/3/2021 | 9.300.000.000 | 8,3% | 0 | 0 | |
| 20/4/2021 | 9.261.250.000 | 8,3% | 40 | 67.673.425 | 67.673.425 |
| 28/5/2021 | 9.222.500.000 | 8,3% | 38 | 59.038.014 | 59.038.014 |
| 15/6/2021 | 9.183.750.000 | 8,3% | 18 | 65.170.918 | 65.170.918 |
| Từ 16/6/2021 đến tháng 10/3/2022 | 9.183.750.000 | 8,3% | 267 | 557.592.010 | 0 |
| Từ 11/3/2022 đến 12/7/2022 | 9.183.750.000 | 10,3% | 125 | 323.947.346 | 0 |
| Cộng: | 1.073.421.713 | 191.882.357 | |||
Tổng cộng tiền nợ lãi trong hạn = 1.073.421.713 đồng - 191.882.357 đồng = 881.539.356 đồng (Tám trăm tám mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm năm mươi sáu đồng)
Lãi quá hạn 2.888.209.119 đồng:
Từ ngày 13/7/2024, Ngân hàng B chuyển khoản nợ gốc 9.183.750.000 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn 10,3%. Ngày 11/9/2023 ông T1 thanh toán số tiền 780.702 đồng nên Ngân hàng B đã trừ số tiền thanh toán này vào khoản nợ gốc và số nợ gốc từ thời điểm 11/9/2023 là 9.182.969.828 đồng, áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn 10,3%. Cụ thể:
| Ngày chuyển nợ QH | Số dư nợ chuyển QH (VNĐ) | Lãi suất QH/năm | Số ngày QH | Nợ lãi quá hạn chưa trả (VNĐ) |
|---|---|---|---|---|
| Từ 13/7/2022 đến 10/9/2023 | 9.183.750.000 | 15,45% | 424 | 1.648.244.096 |
| Từ 11/9/2023 đến 26/7/2024 | 9.182.969.828 | 15,45% | 319 | 1.239.965.023 |
Tổng cộng nợ lãi quá hạn: 1.648.244.096 đồng + 1.239.965.023 đồng = 2.888.209.119 đồng (Hai tỷ, tám trăm tám mươi tám triệu, hai trăm lẻ chín nghìn, một trăm mười chín đồng)
Lãi phạt 299.836.805 đồng (Lãi phạt = Nợ lãi quá hạn x lãi suất phạt 10%/năm/365 ngày x số ngày áp dụng lãi phạt). Căn cứ điểm b) mục 4. của Hợp đồng tín dụng số 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 cho thấy giữa Ngân hàng B và ông Nguyễn Hoàng T1 có thỏa thuận về lãi chậm trả 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Như vậy, ông T1
có hai thời điểm chậm trả lãi tương ứng với hai khoản tiền lãi chưa thanh toán, cụ thể:
| Ngày áp dụng lãi phạt | Nợ lãi quá hạn VNĐ | Lãi phạt suất | Số ngày áp dụng lãi phạt | Số tiền lãi phạt phải chịu VNĐ |
|---|---|---|---|---|
| Từ 13/7/2022 đến 10/9/2023 | 1.648.244.096 | 10%/365 | 424 | 191.467.259 |
| Từ 11/9/2023 đến 26/7/2024 | 1.239.965.023 | 10%/365 | 319 | 108.369.546 |
Tổng cộng lãi phạt: 191.467.259 + 108.369.546 = 299.836.805 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu, tám trăm ba mươi sáu nghìn, tám trăm lẻ năm đồng)
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng B buộc ông Nguyễn Hoàng T1 phải thanh toán tổng nợ lãi tạm tính đến hết ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 4.069.585.280 đồng (Bốn tỷ, không trăm sáu mươi chín triệu, năm trăm tám mươi lăm nghìn, hai trăm tám mươi đồng), gồm: lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Hoàng T1 còn phải tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi, lãi phạt phát sinh theo Hợp đồng tín dụng 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 và phụ lục phát sinh kể từ ngày 27 tháng 7 năm 2024 cho đến khi ông Nguyễn Hoàng T1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng B.
[4.2] Tổng số nợ gốc và lãi mà ông Nguyễn Hoàng T1 có trách nhiệm phải thanh toán cho Ngân hàng B là 13.252.555.108 đồng (Mười ba tỷ đồng, hai trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ tám đồng). Trong đó nợ gốc là 9.182.969.298 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 4.069.585.280 đồng (Trong đó lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng).
[4.3] Do ông Nguyễn Hoàng T1 đã vi phạm nghĩa vụ từ thời điểm 15/6/2021 đến nay (Ngày 11/9/2023 ông T1 có thanh toán thêm số tiền 780.702 đồng) làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng B nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc ông Nguyễn Hoàng T1 thanh toán làm một lần cho Ngân hàng B khoản nợ gốc và lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[4.3] Về Hợp đồng thế chấp:
Xét Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15074103/HĐBĐ ngày 24/3/2021 được công chứng tại Văn phòng C1 theo số công chứng 005790, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD; Việc thế chấp có đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/3/2021 theo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định ông Nguyễn Hoàng T1 đã thế chấp tài sản đảm bảo là Thửa đất số 173, tờ bản đồ số 47 Bộ địa chính, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ
số A đường C, dự án khu N, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Thửa đất nêu trên đã được Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK099609, số vào số cấp GCN: CS15694/DA ngày 03 tháng 11 năm 2017. Do vậy, việc Ngân hàng B yêu cầu phát mãi tài sản là nhà đất trên để thu hồi nợ trong trường hợp ông Nguyễn Hoàng T1 không trả được nợ là phù hợp với quy định tại Điều 299 và Khoản 6 Điều 320 của Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản không đủ để thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ thì việc Ngân hàng B yêu cầu ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho ngân hàng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 11 của Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15074103/HĐBĐ ngày 24/03/2021 đã ký giữa hai bên nên có cơ sở để chấp nhận.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản để thanh toán các nghĩa vụ của ông T1 mà tiền vẫn còn thì Ngân hàng B có trách nhiệm chuyển trả cho ông T1, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trường hợp phải xử lý tài sản để thu hồi nợ thì tất cả những người đang cư trú tại nhà đất số A đường C, dự án khu nhà ở P, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) phải có trách nhiệm giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như: Ông Dương Ngọc B, ông Dương Phan Hồng N, bà Phạm Thị Thu T2 và ông Dương Phan Nhựt H không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) Ngân hàng B tự nguyện chịu, đã thực hiện xong.
[6] Về án phí sơ thẩm:
Bị đơn – ông Nguyễn Hoàng T1 phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho Nguyên đơn – Ngân hàng B. Nguyên đơn – Ngân hàng B được hoàn trả tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 21; Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 40; Điểm a, b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 295; Điều 298; Điều 299; Điều 305; Điều 317, Điều 320, Điều 323; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
- Căn cứ Điều 7; Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (tên viết tắt B):
- Trường hợp phải xử lý tài sản để thu hồi nợ thì tất cả những người đang cư trú tại nhà đất số A đường C, dự án khu nhà ở P, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) phải có trách nhiệm giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như: Ông Dương Ngọc B, ông Dương Phan Hồng N, bà Phạm Thị Thu T2 và ông Dương Phan Nhựt H không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tự nguyện chịu, đã thực hiện xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Hoàng T1 phải chịu án phí sơ thẩm là 121.252.555 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí 59.252.017 đồng (Năm mươi chín triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn, không trăm mười bảy đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0010706 ngày 26/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, ông Nguyễn Hoàng T1, ông Dương Ngọc B, ông Dương Phan Hồng N, bà Phạm Thị Thu T2 và ông Dương Phan Nhựt H vắng mặt tại phiên tòa nên được kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc ông Nguyễn Hoàng T1 có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 13.252.555.108 đồng (Mười ba tỷ đồng, hai trăm năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ tám đồng). Trong đó nợ gốc là 9.182.969.298 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 26 tháng 7 năm 2024 là 4.069.585.280 đồng (Trong đó lãi trong hạn là 881.539.356 đồng; lãi quá hạn là 2.888.209.119 đồng, lãi phạt là 299.836.805 đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật theo Hợp đồng tín dụng 01/2021/15074103/HĐTD ngày 11/03/2021 và phụ lục phát sinh; Bảng Điều khoản và điều kiện vay; Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/15074103/HĐBĐ ngày 24 tháng 3 năm 2021.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật.
Trường hợp ông Nguyễn Hoàng T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Thửa đất số 173, tờ bản đồ số 47, Bộ địa chính, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số A đường C, dự án khu N, phường P, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Thửa đất đã được Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK099609, số vào số cấp GCN: CS15694/DA ngày 03 tháng 11 năm 2017.
Nếu việc xử lý tài sản bảo đảm mà không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì ông Nguyễn Hoàng T1 có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ theo hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản để thanh toán các nghĩa vụ của ông T1 mà tiền vẫn còn thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có trách nhiệm chuyển trả cho ông Nguyễn Hoàng T1 trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Bích |
Bản án số 154/2024/DSST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 154/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 154/2024/DSST Ngày 26/7/2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
