|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1534/2024/DS-ST
Ngày: 05 - 8- 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Nhơn
2/ Bà Nguyễn Thị Bính Thân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận
Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1191/2021/TLST-KDTM ngày 17 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2024/QÐST-KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2024; Quyết định tạm ngưng phiên tòa số 216/2024/QÐST-KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 293/2024/QÐST-KDTM ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lương Thị Vân A; ông Ngô Xuân S; ông Nguyễn Hoài P
Địa chỉ: 2 D, phường B, quận H, TP . Hồ Chí Minh
(Theo quyết định ủy quyền số 666/BIDV-TTXLN2 ngày 20 tháng 4 năm 2023 của
Ngân hàng TMCP Đ).
Bị đơn: Công ty Cổ phần X
Địa chỉ: G B, phường A, quận B, TP . Hồ Chí Minh
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quốc D
Địa chỉ: 2 L, phường A, quận G, TP .
(Theo giấy ủy quyền số 0705/2024-CV-XL5 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Công ty Cổ phần X).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hà Thiên K
- Nơi cư trú: Tổ C, Khu V, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Ông Trần Hữu C, sinh năm 1941;
- Bà Trần Thị M, sinh năm 1950;
- Ông Trần Hữu N, sinh năm 1977;
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1991
- Cùng cư trú: 7 N, phường C, quận G, TP . Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2021 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trình bày:
Ngày 18/04/2019, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B và Công ty Cổ phần X (Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quốc D) đã ký kết hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND). Theo đó Ngân hàng TMCP Đ cấp cho Công ty Cổ phần X hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền tối đa là 14.000.000.000 VND (Mười bốn tỷ đồng). Thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng. (Từ ngày 18/04/2019 đến ngày 18/04/2020), mục đích vay để bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh, mở L1; Lịch trả nợ: Gốc và lãi trả định kỳ hàng tháng.
Theo hợp đồng tín dụng hạn mức đã ký kết, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B đã giải ngân cho Công ty Cổ phần X gồm 09 khế ước. Trong đó khế ước số 11782000050271 ngày 25/10/2019 đã được giải ngân vào ngày 25/10/2019 với số tiền 2.000.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B đã thu một phần nợ gốc của khế ước này như sau: Ngày 27/12/2019 thu một phần nợ gốc số tiền là 343.145 đồng; ngày 11/3/2020 thu một phần nợ gốc 159.488 đồng; ngày 20/4/2020 thu một phần nợ gốc là 234.867 đồng; ngày 29/4/2020 thu một phần nợ gốc là 800.000.000 đồng. Do đó, tổng số tiền đã thu nợ gốc của khế ước là 800.737.500 đồng. Dư nợ gốc còn lại của khế ước này là 1.199.262.500 đồng. Như vậy, tổng cộng 09 khế ước nhận nợ từ ngày 25/10/2019 đến ngày 20/12/2019 tổng số tiền gốc là 13.098.262.500 đồng (mười ba tỷ không trăm chín tám triệu hai trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm đồng) với lãi suất vay trong hạn là 9,60%/Năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (lãi suất vay đã được điều chỉnh nếu có) lãi chậm trả (áp dụng với số tiền lãi chậm trả) 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 25.
Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Cổ phần X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B đã thông báo đôn đốc, yêu cầu Công ty Cổ phần X trả nợ nhiều lần cụ thể:
Ngày 23/01/2020: Ngân hàng gửi thông báo nợ đến hạn (lần 1), cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 10/02/2020: Ngân hàng gửi thông
báo nợ đến hạn (lần 2), cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 06/03/2020: Ngân hàng gửi thông báo nợ tháng 02/2020 đang quá hạn (lần 2), cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 10/03/2020: Ngân hàng gửi thông báo nợ tháng 02/2020 đang quá hạn (lần 3), cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 19/03/2020: Ngân hàng gửi thông báo lãi tháng 03/2020 (lần 1), cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 15/04/2020: Ngân hàng gửi thông báo nợ tháng 03/2020 đang quá hạn (lần 2), cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 22/04/2020: Ngân hàng gửi thông báo nợ đến hạn và kế hoạch thu giữ tài sản để xử lý nợ, cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 26/05/2020: Ngân hàng gửi thông báo nợ quá hạn và mời họp xử lý nợ, cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 03/07/2020: Ngân hàng gửi thông báo yêu cầu tự nguyện bàn giao tài sản (lần 2), cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 10/07/2020: Ngân hàng gửi thông báo phối hợp tự nguyện bàn giao tài sản, cho bên vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp và các bên liên quan. Ngày 09/09/2020: Ngân hàng gửi thông báo phối hợp với Ngân hàng trong xử lý tài sản sau khi thu giữ (lần 4). Ngày 29/10/2021: B1 gửi văn bản đề nghị KH trả nợ quá hạn tại B1.
Ngày 13/03/2020: B1 làm việc với ông Hà Thiên K (bên thế chấp TSBĐ) v/v bàn giải pháp trả nợ của Cty Xây lắp E; chấp thuận bàn giao tài sản cho B1 để xử lý thu hồi nợ của Cty Xây lắp E tại B1; Ngày 19/05/2020: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B và Công ty Cổ phần X có buổi làm việc, đại diện của Công ty Cổ phần X: đồng ý trả hết nợ đến hạn các khế ước đang quá hạn. Ngày 01/06/2020: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B và Công ty Cổ phần X có buổi làm việc, đại diện của Công ty X: cam kết thanh toán toàn bộ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng, dự kiến thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 20/07/2020.
Qua nhiều lần nhắc nợ Công ty Cổ phần X vẫn chưa thực hiện nghĩa thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi suất cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B nên Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện Công ty Cổ phần X ra Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh yêu cầu như sau: Buộc Công ty Cổ phần X trả toàn bộ số nợ theo hợp đồng tín dụng tạm tính đến này 05/7/2024 như sau: Nợ gốc là 13.098.262.500 đồng; lãi trong hạn là 256.761.346 đồng; lãi quá hạn là 7.707.929.670 đồng; Lãi chậm trả là 108.416.406 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là: 21.171.369.922 đồng (Hai mươi mốt tỷ một trăm bảy mốt triệu ba trăm sáu chín ngàn chín trăm hai mươi hai đồng).
Buộc Công ty Cổ phần X còn phải thanh toán phần nợ lãi, phạt lãi phát sinh đối với số nợ còn lại từ ngày 06/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty Cổ phần X như sau:
- Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 02/2017/8038717/HĐBĐ ngày 18/10/2017: Căn nhà số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 774740, số vào sổ cấp GCN CS 05707 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 19/09/2017.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống thiết bị sản xuất nhựa nhủ tương, nhựa MC công suất 25t/h Model BR50-107 được mua từ Công ty TNHH X1.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2007, được mua từ Công ty TNHH C2.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2010, được mua từ Công ty TNHH C2.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/8038717/HĐBĐ ngày 28/11/2018: Xe xúc lật hiệu KOMATSU WA380-5, Số khung: W097-62118 (được mua từ D1).
Trong trường hợp Công ty Cổ phần X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp cho Ngân hàng. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần X đối với Ngân hàng TMCP Đ. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ nói trên, Công ty Cổ phần X tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Đại diện nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
+ Về sự có mặt, vắng mặt của bị đơn Công ty Cổ phần X như sau:
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần X – Do ông Ngô Quốc D đại diện theo pháp luật vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng từ khi thụ lý đến ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024, mặc dù đã được Tòa án tiến hành xác minh, triệu tập, niêm yết hợp lệ. Ngày 07/5/2024 ông Ngô Quốc D có mặt và cung cấp cho Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh giấy ủy quyền số 0705/2024/CV-XL5 ngày 07/5/2024 ủy quyền của Công ty Cổ phần X cho ông Trần Hữu N và nộp đơn xin hoãn phiên tòa, đơn xin hoãn phiên tòa do ông Trần Hữu N viết, ký đề ngày 07/5/2024.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần X - Do ông Ngô Quốc D không có bất kỳ ý kiến trình bày nào và không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào liên quan đến việc giải quyết tranh chấp.
Tại phiên Tòa dân sự sơ thẩm diễn ra vào ngày 07/6/2024 bị đơn Công ty Cổ phần X – Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Trần Hữu N trình bày:
Bị đơn thừa nhận giữa bị đơn Công ty Cổ phần X (Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quốc D) và nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B đã ký kết hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp
dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND), theo đó Ngân hàng TMCP Đ cấp cho Công ty Cổ phần X hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền tối đa là 14.000.000.000 VND (Mười bốn tỷ đồng). Thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng. (Từ ngày 18/04/2019 đến ngày 18/04/2020), mục đích vay để bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh, mở L1; Lịch trả nợ: Gốc và lãi trả định kỳ hàng tháng.
Theo hợp đồng tín dụng hạn mức đã ký kết, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B đã giải ngân cho Công ty Cổ phần X gồm 09 khế ước nhận nợ từ ngày 25/10/2019 đến ngày 20/12/2019 tổng cộng số tiền gốc là 13.098.262.500 đồng (mười ba tỷ không trăm chín tám triệu hai trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm đồng) với lãi suất vay trong hạn là 9.60%/Năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (lãi suất vay đã được điều chỉnh nếu có) lãi chậm trả (áp dụng với số tiền lãi chậm trả) 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 25. Tài sản bảo đảm cho khoản vay như sau:
- Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 02/2017/8038717/HĐBĐ ngày 18/10/2017: Căn nhà số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 774740, số vào sổ cấp GCN CS 05707 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 19/09/2017.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống thiết bị sản xuất nhựa nhủ tương, nhựa MC công suất 25t/h Model BR50-107 được mua từ Công ty TNHH X1.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2007, được mua từ Công ty TNHH C2.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2010, được mua từ Công ty TNHH C2.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/8038717/HĐBĐ ngày 28/11/2018: Xe xúc lật hiệu KOMATSU WA380-5, Số khung: W097-62118 (được mua từ D1).
Đối với các động sản thế chấp nêu trên gồm xe xúc lật, và các hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng, hệ thống thiết bị sản xuất nhựa nhủ tương, nhưa MC đã lâu không hoạt động, hiên nay đã được cất giữ tại xã P, huyện T, tỉnh Bình Định và tại Cảng Q P, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Do làm ăn khó khăn, dịch bệnh C1 dẫn đến kinh tế của Công ty Cổ phần X bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nên không có đủ khả năng trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Nên Công ty Cổ phần X đề nghị Ngân hàng TMCP Đ tạo điều kiện về thời gian để Công ty Cổ phần X làm ăn có điều kiện trả hết số nợ và đề nghị Ngân hàng TMCP Đ miễn toàn bộ lãi cho Công ty Cổ phần X. Ngoài ra Công ty Cổ phần X. Đối với số nợ gốc và lãi theo yêu
cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đã trình bày tại phiên tòa thì bị đơn Công ty Cổ phần X sẽ về xem xét đối chiếu lại và sẽ cung cấp cho Tòa án sau.
+ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ gồm ông Hà Thiên K; ông Trần Hữu C; bà Trần Thị M; bà Lê Thị T: Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành xác minh và thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết các thủ tục tố tụng dân dự đúng quy định nhưng đều vắng mặt không có bất kỳ ý kiến trình bày nào và không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào liên quan đến việc giải quyết tranh chấp.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ ông Trần Hữu N trình bày tại bản tự khai ngày 16/11/2022 như sau: Hiện nay ông đang cư trú tại địa chỉ 7 N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và là người thân của ông Hà Thiên K (chủ nhà) việc tranh chấp giữa ông Hà Thiên K và Ngân hàng TMCP Đ hiện tại ông chưa có ý kiến. Ngoài ra ông Trần Hữu N không có bất kỳ ý kiến trình bày nào khác.
+ Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ - Đại diện theo ủy quyền ông Ngô Xuân S trình bày như sau:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện và bản tự khai đã trình bày với bị đơn Công ty Cổ phần X. Yêu cầu Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị đơn Công ty Cổ phần X thanh toán hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Đ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 21.333.744.181 đồng, cụ thể như sau:
- - Nợ gốc: 13.098.262.500 đồng;
- - Nợ lãi trong hạn: 256.761.346 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 7.868.123.214 đồng;
- - Lãi chậm trả: 110.597.121 đồng
Bị đơn ông Công ty Cổ phần X còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 6/8/2024 theo đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, Ngày 18/04/2019. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn Công ty Cổ phần X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, các tài sản thế chấp gồm:
- Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 02/2017/8038717/HĐBĐ ngày 18/10/2017: Căn nhà số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 774740, số vào sổ cấp GCN CS 05707 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 19/09/2017.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống thiết bị sản xuất nhựa nhủ tương, nhựa MC công suất 25t/h Model BR50-107 được mua từ Công ty TNHH X1.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2007, được mua từ Công ty TNHH C2.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2010, được mua từ Công ty TNHH C2.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/8038717/HĐBĐ ngày 28/11/2018: Xe xúc lật hiệu KOMATSU WA380-5, Số khung: W097-62118 (được mua từ D1).
Toàn bộ số tiền thu được từ việc cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ theo đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND), nếu số tiền thu được không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn Công ty Cổ phần X vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ và lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP Đ cho đến khi hết nợ.
+ Tại phiên tòa bị đơn Công ty Cổ phần X - Đại diện theo ủy quyền ông Trần Hữu N trình bày như sau: Bị đơn thừa nhận có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ theo đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, Ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND). Bị đơn Công ty Cổ phần X giữ nguyên ý kiến như đã trình bày giống như lời trình bày tại phiên tòa diễn ra ngày 07/6/2024 và bị đơn thừa nhận toàn bộ số nợ gốc và lãi như nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trình bày tại phiên tòa ngày hôm nay 05/8/2024 là đúng. Tính đến ngày 05/8/2024 bị đơn Công ty Cổ phần X còn nợ nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ như sau: Tổng số tiền nợ gốc: 13.098.262.500 đồng; số nợ lãi trong hạn: 256.761.346 đồng; số nợ lãi quá hạn: 7.868.123.214 đồng và lãi chậm trả: 110.597.121 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là: 21.333.744.181 đồng (hai mươi mốt tỷ ba trăm ba mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn một trăm tám mốt đồng).
Do làm ăn khó khăn về kinh tế, Công ty X không còn hoạt động và không có thu nhập, toàn bộ máy móc, thiết bị cầu đường là sản thế chấp nêu trên, bao gồm xe và các hệ thống trạm trộn bê tông đã lâu không hoạt động và hư hỏng nặng, qua xem xét thẩm định của Tòa án quận Bình Thạnh là đúng sự thật. Do đó hiện nay bị đơn Công ty X không có đủ khả năng trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ và phương án trả nợ duy nhất hiện nay đề nghị nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ tạo điều kiện để bị đơn trả dần và bán tài sản bảo đảm đã thế chấp là nhà và đất số G N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 774740, số vào sổ cấp GCN CS 05707 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 19/09/2017. Ngoài ra bị đơn Công ty X đề nghị nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ miễn toàn bộ lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả để bị đơn có cơ hội và hoàn thành nghĩa vụ trả nợ sớm nhất có thể cho nguyên đơn.
+ Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Thiên K; ông Trần Hữu C; bà Trần Thị M; bà Lê Thị Tuyết m tại phiên tòa, nên không có ý kiến trình bày.
+ Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu N có ý kiến trình bày như sau: Ông Trần Hữu N thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ và bị đơn Công ty Cổ phần X, nên không có ý kiến trình bày nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Tuy nhiên, Thẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử vi phạm thời hạn quy định tại điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của Điều 51 BLTTDS.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 73 BLTTDS.
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
+ Về nội dung:
- Căn cứ theo quy định tại Điều 91, 94, 95 và 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi quá hạn tính đến ngày 05/8/2024 như sau:
Tổng nợ quá hạn: 21.333.744.181 đồng.
- + Nợ gốc: 13.098.262.500 đồng.
- + Lãi trong hạn: 256.761.346 đồng.
- + Lãi quá hạn: 7.868.123.214 đồng.
- + Lãi chậm trả: 110.597.121 đồng.
Ngoài ra, công ty còn có nghĩa vụ phải thanh toán phần nợ lãi, phạt lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp Công ty Cổ phần X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp cho Ngân hàng. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần X đối với Ngân hàng TMCP Đ. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ nói trên, Công ty Cổ phần X tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Về án phí: Bị đơn chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn Công ty Cổ phần X, bị đơn Công ty Cổ phần X có trụ sở tại G đường B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 được lập và có chữ ký giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn Công ty Cổ phần X, do đó có cơ sở xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Sự có vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hà Thiên K; ông Trần Hữu C; bà Trần Thị M; bà Lê Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hà Thiên K; ông Trần Hữu C; bà Trần Thị M; bà Lê Thị T là đúng quy định.
[4] Về thủ tục tiếp cận công khai chứng cứ bổ sung tại phiên tòa :
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2024/QÐST-KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2024. Ngày 07 tháng 6 năm 2024 Tòa án tiến hành mở phiên tòa dân sự sơ thẩm, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày toàn bộ các động sản thế chấp cho nguyên đơn gồm xe xúc lật, và các hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng, hệ thống thiết bị sản xuất nhựa nhủ tương, nhưa MC hiên nay đã được cất giữ tại xã P, huyện T, tỉnh Bình Định và tại Cảng Q, tỉnh Bình Định. Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã quyết định tạm ngưng phiên tòa số 216/2024/QÐST-KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2024 để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp nêu trên. Căn cứ vào khoản 4 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sư, Tòa án tiến hành công bố công khai các tài liệu chứng cứ mới thu thập cho các bên đương sự tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đồng ý và không có ý kiến nào khác.
[5] Xét việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hà Thiên K; ông Trần Hữu C; bà Trần Thị M; bà Lê Thị Tuyết . Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành xác minh, niêm yết công khai thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập tham gia phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa; quyết định tạm ngưng phiên tòa nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt, không có lý do và cũng không có ý kiến phản hồi gửi về Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh. Vì vậy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
[6] Về nội dung tranh chấp:
[6.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ buộc bị đơn Công ty Cổ phần X thanh toán nợ gốc là: 13.098.262.500 đồng.
Xét hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND) được lập và có chữ ký giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn Công ty Cổ phần X phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 nên có hiệu lực.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần X trả toàn bộ số tiền gốc còn nợ theo hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND) là 13.098.262.500 đồng. Bị đơn Công ty Cổ phần X - Đại diện hợp pháp theo ủy quyền ông Trần Hữu N cũng đã thừa nhận vi phạm hợp đồng tín dụng và còn nợ nguyên đơn ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền gốc là 13.098.262.500 đồng. Như vậy, đây là những tình tiết, sự kiện được các bên đương sự thừa nhận, do đó không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Công ty Cổ phần X vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và vi phạm các điều khoản trong các hợp đồng tín dụng cụ thể (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND) mà các bên đã giao kết và Điều 11 và Điều 13 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc Ngân hàng N1. Do đó nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần X thanh toán toàn bộ số tiền gốc là 13.098.262.500 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.
[6.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền lãi trong hạn 256.761.346 đồng, lãi quá hạn 7.868.123.214 đồng và lãi chậm trả là 110.597.121 đồng tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm và tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn Công ty Cổ phần X đã thừa nhận có quan hệ tín dụng theo hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND), thừa nhận còn nợ tiền gốc chưa trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 13.098.262.500 đồng, thừa nhận toàn bộ số tiền lãi phát sinh gồm lãi trong hạn 256.761.346 đồng, lãi quá hạn 7.868.123.214 đồng và lãi chậm trả là 110.597.121 đồng tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm chưa trả theo yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị nguyên đơn miễn toàn bộ số tiền lãi phát sinh này, do hiện tại bị đơn gặp khó khăn về kinh tế. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND) vi phạm các điều khoản của hợp đồng đã giao kết. Do đó nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ chuyển số nợ gốc sang quá hạn và tính lãi quá hạn là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 11 và Điều 13 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của
Thống đốc Ngân hàng N1 và Điều 8, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn.
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.
[6.3] Xét Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số: 02/2017/8038717/HĐBĐ ngày 18/10/2017; Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017; Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/8038717/HĐBĐ ngày 28/11/2018.
Xét hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số: 02/2017/8038717/HĐBĐ ngày 18/10/2017 được ký kết giữa ba bên là Ngân hàng TMCP Đ, với Công ty Cổ phần X và ông Hà Thiên K được thực hiện tại Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh số công chứng 16568, quyển số 10 TP/CC - SCC/HĐGD ngày 18/10/2017. Theo Điều 4 của hợp đồng phạm vi và nghĩa vụ bảo đảm của tài sản thế chấp: “Bên thế chấp đồng ý dùng toàn bộ tài sản thế chấp nêu tại Điều 2 hợp đồng nay để bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo đảm đối với ngân hàng phát sinh từ tất cả các hợp đồng tín dụng và /hoặc hợp đồng cấp bảo lãnh được ký kết giữa Ngân hàng và bên được bảo đảm trong khoảng thời gian từ ngày 20/10/2017 đến ngày 20/10/2027, bao gồm nhưng không giới hạn nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền bồi thường thiệt hại, chi phí xử lý tài sản cầm cố ..và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác”. Trong đó có hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019.
Việc đăng ký thế chấp được thực hiện theo đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 20 tháng 10 năm 2017 được chứng nhận bởi cơ quan đăng ký Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H, - Chi nhánh quận G tại thời điểm 10 giờ 23 phút ngày 20 tháng 10 năm 2023. Như vậy, việc thế chấp đã đúng quy định tại các Điều 335; Điều 342, Điều 343 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 12 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Do đó hợp đồng thế chấp này có hiệu lực pháp luật.
Xét các hợp đồng thế chấp số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017; Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/8038717/HĐBĐ ngày 28/11/2018 được ký kết giữa hai bên là Ngân hàng TMCP Đ và Công ty Cổ phần X gồm: Hệ thống thiết bị sản xuất nhựa nhủ tương, nhựa MC công suất 25t/h Model BR50-107 được mua từ Công ty TNHH X1; Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2007, được mua từ Công ty TNHH C2. Hệ thống trạm trộn bê
tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2010, được mua từ Công ty TNHH C2 và xe xúc lật hiệu KOMATSU WA380-5, Số khung: W097-62118 (được mua từ D1). Đây là tài sản hợp pháp của bên vay Công ty Cổ phần X, các loại tài sản không phải là bất động sản, được giao kết bằng hợp đồng giữa hai pháp nhân với nhau. Việc thế chấp đã đúng quy định tại các Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 342, Điều 343 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó hợp đồng thế chấp này có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bị đơn Công ty Cổ phần X không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, theo các điều khoản của của các Hợp đồng thế chấp tài sản số: 02/2017/8038717/HĐBĐ ngày 18/10/2017; Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017; Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/8038717/HĐBĐ ngày 28/11/2018. Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại quyền về tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì bị đơn Công ty Cổ phần X còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
Xét yêu cầu nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm mà bị đơn Công ty Cổ phần X đã thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo yêu cầu trả nợ là phù hợp với quy định tại Điều 355, Điều 717 Bộ luật dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Sau khi bị đơn Công ty Cổ phần X thanh toán xong nợ, Ngân hàng TMCP Đ phải giải chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 83, tờ bản đồ số 55 địa chỉ 7 N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật và trả lại cho bị đơn Công ty Cổ phần X và ông Hà Thiên K bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp mà họ đã thế chấp gồm: Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 83, tờ bản đồ số 55 địa chỉ 7 N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, số vào sổ cấp GCN: CS 05707 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/9/2017 và toàn bộ các hợp đồng mua bán, hóa đơn giá trị gia tăng mà Ngân hàng TMCP Đ đang giữ của Công ty Cổ phần X.
[6.4] Xét thời hạn thanh toán: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Công ty Cổ phần X trả số tiền nợ nêu trên một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn Công ty Cổ phần X xin nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trả tiền gốc vì hiện nay kinh tế bị đơn đang trong giai đoạn khó khăn, không có khả năng thanh toán. Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn ..”. Pháp luật không quy định người vay được trả dần do hoàn cảnh khó khăn. Việc trả dần hay không do hai bên cùng thỏa thuận nhưng nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của bị đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
Căn cứ Điều 350, Điều 351, Điều 352; Điều 355 của Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm e khoản 1 Điều 25 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện này.
[7] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn Công ty Cổ phần X phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với bất động sản và các động sản thế chấp mà nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đã nộp là 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị đơn Công ty Cổ phần X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 129.333.744 đồng (Một trăm hai mươi chín triệu ba trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.416.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0089653 ngày 26/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 33, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, 94, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ các Điều 274, 275, Điều 317, 318, 319, 320, 335, 342, 343, 350, 351, 352, 355, 357; 474 717 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Căn cứ Điều 19 Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ;
- Căn cứ Điều 11, Điều 13, điểm e khoản 1 Điều 25 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc Ngân hàng N1;
- Căn cứ khoản 1 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2022),
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ
- Buộc Công ty Cổ phần X phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 21.333.744.181 đồng (hai mươi mốt tỷ ba trăm ba mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn một trăm tám mươi mốt đồng). Trong đó nợ gốc: 13.098.262.500 đồng; nợ lãi trong hạn: 256.761.346 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.868.123.214 đồng; lãi chậm trả: 110.597.121 đồng. Theo hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, kèm theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND) giữa Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn Công ty Cổ phần X.
Sau khi Công ty Cổ phần X trả hết số nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP Đ thì Ngân hàng TMCP Đ phải giải chấp tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tại nhà số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 774740, số vào sổ cấp GCN CS 05707 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 19/09/2017 theo quy định của pháp luật.
Trả các giấy tờ bản chính có liên quan đến hợp đồng thế chấp cho Công ty Cổ phần X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Thiên K theo quy định của pháp luật gồm: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 774740, số vào sổ cấp GCN CS 05707 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 19/09/2017; Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000097 ngày 30/11/2016; Chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng nhập khẩu số 16KMC/002586 ngày 19/02/2016; hợp đồng mua bán số 07-HĐMB-2016; bảng theo dõi tài sản cố định và trích khấu hao xe xúc ngày 31/10/2018; Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000010 ngày 09/8/2017; hợp đồng mua bán số 12/HĐMB ngày 30/05/2017; phụ lục hợp đồng mua bán số 23/PLHĐMB/2017 ngày 15/6/2017; phụ lục hợp đồng mua bán số 24/PLHĐMB/2017 ngày 15/6/2017; biên bản thanh lý hợp đồng đề năm 2017; biên bản bàn giao ngày 09/8/2017; hóa đơn giá trị gia tăng số 0000027 ngày 07/8/2017; hợp đồng mua bán giây chuyền thiết bị sản xuất Nhũ tương nhựa đường ngày 05/01/2017; phụ lục hợp đồng mua bán số 10/TLHĐMB/2017 ngày 10/7/2017; biên bản bàn giao ngày 07/8/2017; thông số kỹ thuật máy sản xuất Nhũ tương, MC Model: BR50-107 công suất: 25 tấn/giờ; hồ sơ quyết toàn số 20.2017/TPĐ-XL5.
Trường hợp bị đơn Công ty Cổ phần X không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan có thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tài sản thế chấp gồm:
Căn nhà số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 774740, số vào sổ cấp GCN CS 05707 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 19/09/2017. (Theo hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 02/2017/8038717/HĐBĐ ngày 18/10/2017) việc đăng ký thế chấp được thực hiện tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G lúc 10 giờ 30 ngày 20/7/2017.
Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống thiết bị sản xuất nhựa nhủ tương, nhựa MC công suất 25t/h Model BR50-107 được mua từ Công ty TNHH X1.
Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2007, được mua từ Công ty TNHH C2.
Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2017/8038717/HĐBĐ ngày 31/10/2017: Hệ thống trạm trộn bê tông nhựa nóng Model TSAP-1300FFW. Công suất 110-120t/h. Sản xuất năm 2010, được mua từ Công ty TNHH C2.
Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/8038717/HĐBĐ ngày 28/11/2018: Xe xúc lật hiệu KOMATSU WA380-5, Số khung: W097-62118 (được mua từ D1).
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì bị đơn Công ty Cổ phần X còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
Trong trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm là căn nhà số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đang cư trú và thực tế sinh sống tại nhà số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phải giao và trả lại nhà và đất để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản đúng quy định.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Bị đơn Công ty Cổ phần X có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn Công ty Cổ phần X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 129.333.744 đồng (Một trăm hai mươi chín triệu ba trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.416.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0089653 ngày 26/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 và các hợp đồng tín dụng cụ thể, kèm theo hợp đồng hạn mức 01/2019/8038717/HĐTD, ngày 18/04/2019 (áp dụng đối với khoản vay theo mức tín dụng đối với KHBL và KHND) giữa Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn Công ty Cổ phần X.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022).
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thức |
Bản án số 1534/2024/DS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1534/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Đ với Công ty Cổ phần X
