|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 153/2024/HS-ST
Ngày: 31-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Loan.
2. Bà Trần Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1997; tại: Tỉnh Nam Định; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Số C đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị P; có chồng: Lê Tuấn A (đã chết); có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-4-2024, đến ngày 06-5-2024 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N, tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị Thanh H1 và ông Trần Đăng L (không triệu tập đến phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 27-4-2024, tổ công tác Công an phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định, làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số nhà A đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Đăng L, sinh năm 1998; trú tại: Thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định đang điều khiển xe máy Honda Wave, màu xanh bạc, biển kiểm soát 18K1 - 393.87 chở Trần Hữu T1, sinh năm 1991; trú tại: Số H đường T, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định ngồi giữa và Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997; trú tại: Số C đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định ngồi sau cùng. Tổ công tác thấy có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, quá trình kiểm tra H dùng tay phải lấy từ trong túi xách đang đeo trên người một túi ni lông màu trắng thả xuống đường. Tổ công tác đã kịp thời thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Thu H (H khai là túi ma túy đá mua về để sử dụng). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của H 01 túi xách dây chéo màu xám có viền và dây đeo màu nâu kích thước (18 x 10 x 5) cm; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng; tạm giữ của L 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18K1 – 393.87 (đều đã cũ).
Cơ quan điều tra - Công an thành phố N đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 840 ngày 03-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị Thu H được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,130 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thu H khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 26-4-2024, H thuê xe ôm từ nhà đến ngõ A, đường Q, phường Q, thành phố N. Đến nơi H trả tiền xe ôm rồi đi vào một ngách nhỏ trong ngõ (H không nhớ số ngách), H gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch địa chỉ) mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng, H cất gói ma túy vào trong túi xách dây chéo đang đeo rồi đi bộ ra đường Q thuê xe ôm về nhà. Khoảng 01 giờ sáng ngày 27-4-2024, H dùng điện thoại của mình nhắn tin qua mạng Zalo đăng ký số thuê bao 0946691989 cho bạn là Trần Đăng L hẹn đến nhà đón H đi ăn đêm. Khoảng 20 phút sau, L chở Trần Hữu T1 bằng xe máy biển kiểm soát 18K1 – 393.87 đến đón H. Ăn xong, L chở T1 và H đi về đến trước cửa số nhà A đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.
Tại cơ quan điều tra Trần Hữu T1 và Trần Đăng L cùng khai nhận nội dung sự việc như trên và khai việc H tàng trữ ma túy L và T1 đều không biết.
2
Về nguồn gốc chiếc xe máy biển kiểm soát 18K1 – 393.87, Trần Đăng L khai mượn của anh Đoàn Văn M, sinh năm 1991, trú tại: Số D đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Bản cáo trạng số 156/CT-VKSND-TPNĐ ngày 16-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, gia đình bị cáo cung cấp hồ sơ bệnh án của cháu Lê Trí D, sinh ngày 18-02-2017 (con trai bị cáo H) bị bệnh bại não và giấy xác nhận cháu D bị khuyết tật.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thu H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27-4-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 27-4-2024; kết luận giám định số 840 ngày 03-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 27-4-2024, tại khu vực trước cửa số nhà A đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,130 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,130 gam nên bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; con trai bị cáo là người khuyết tật nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Thu H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
4
Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 túi xách dây chéo màu xám có viền và dây đeo màu nâu kích thước (18 x 10 x 5) cm, 01 điện thoại di động Iphone màu trắng (đều đã cũ) xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Thị Thu H, tài liệu chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18K1-393.87 là tài sản của anh Đoàn Văn M, sinh năm 1991, trú tại: Số D đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; Cơ quan điều tra xác minh và trả lại chiếc xe trên cho anh Đoàn Văn M là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27-4-2024.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ có trong phong bì niêm phong số 840/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.
Trả lại cho bị cáo 01 túi xách dây chéo màu xám có viền và dây đeo màu nâu (đã cũ), 01 điện thoại di động Iphone màu trắng (đã cũ) trong túi niêm phong mã số NS4A 196588 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-7-2024).
3. Án phí:
5
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Thị Thu H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thu Định |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
6
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ ma túy
