|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 153/2023/HS-ST Ngày 29-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Ngọc Thạch;
- Bà Thị Amina.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Lê L, sinh năm 2001 tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Lê T, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1969; vợ tên Nguyễn Ngọc M, sinh năm 2004; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03-11-2023 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Phạm Tấn H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là con bị hại (có mặt).
- Anh Phạm Hiệp T1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là con bị hại (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị Thúy H1, sinh năm 2003; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là con bị hại (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh T1 và chị H1: Anh Phạm Tấn H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền, Hợp đồng uỷ quyền lập ngày 17-11-2023 (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Tấn H2, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông H2: Anh Phạm Tấn H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền, Hợp đồng uỷ quyền lập ngày 17-11-2023 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1969; Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 19 giờ 30 phút ngày 08-7-2023, Nguyễn Lê L không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe môtô biển số 70K1-307.28 đi từ nhà đến dự đám cưới nhà người quen thuộc ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi đã uống rượu bia L điều khiển xe môtô nêu trên lưu thông trên đường tỉnh lộ 794, từ hướng xã T, huyện T đi hướng xã S, huyện T để về nhà. Do đường tỉnh lộ 794 có dãy phân cách cứng phân chia phần đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, L điều khiển xe lưu thông ngược chiều so với phần đường theo hướng di chuyển, khi đến khu vực thuộc địa bàn ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì đụng vào xe môtô 70K8-7406 do bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh điều khiển cùng chiều bên phải phần đường theo hướng di chuyển và đang chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái dẫn đến tai nạn, bà Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Lê L bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T đến ngày 09-7-2023, bà Nguyễn Thị L1 tử vong.
Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Lê L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Sau khi gây ra tai nạn, Nguyễn Lê L đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 97.000.000 đồng. Ngày 07-8-2023, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho Nguyễn Lê L.
* Kết quả giám định:
- - Tại bản kết luận giám định số 1072/KL-KTHS ngày 20-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu ghi thu của Nguyễn Thị L1 gửi đến giám định không có nồng độ cồn trong máu.
- - Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 115/KLGĐTT-TTPYTN ngày 11-7-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị L1 là do: Dập não/Chấn thương sọ não.
- - Kết quả xét nghiệm ngày 08-7-2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T đối với mẫu máu của Nguyễn Lê L về định lượng Ethanol (cồn), kết quả: 194mg/dl máu.
- - Kết quả xét nghiệm ngày 09-7-2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T đối với mẫu máu của Nguyễn Thị L1 về định lượng Ethanol (cồn), kết quả: Âm tính.
* Kết quả thu giữ, xử lý vật chứng:
Ngày 22-11-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng như sau:
- - Trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 70K1-307.28 cho Nguyễn Lê L là chủ sở hữu hợp pháp.
- - Chuyển Đội CSĐTTP về kinh tế và chức vụ Công an huyện T 01 (một) xe môtô biển số 70K8-7406 có số khung, số máy bị đục xóa không xác định được nguyên thuỷ, không có giấy tờ để xử lý theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 đã nhận số tiền bồi thường 97.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.
* Kết quả kê biên tài sản: Nguyễn Lê L không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
Bản cáo trạng số 148/CT-VKSTC, ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Lê L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và đề nghị: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, không phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Tố tụng Hình sự:
Ngày 22-11-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng như sau:
- - Trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 70K1-307.28 cho Nguyễn Lê L là chủ sở hữu hợp pháp.
- - Chuyển Đội CSĐTTP về kinh tế và chức vụ Công an huyện T 01 (một) xe mô tô biển số 70K8-7406 có số khung, số máy bị đục xóa không xác định được nguyên thuỷ, không có giấy tờ để xử lý theo quy định.
* Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 591, 601 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại 97.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Lê L bồi thường gì thêm.
Bị cáo Nguyễn Lê L thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Anh Phạm Tấn H là người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 và ông Phạm Tấn H2 không có ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị O xác định số tiền 97.000.000 đồng là do bị cáo Nguyễn Lê L tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Lê L xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Vào khoảng 21 giờ 20 phút, ngày 08-7-2023, Nguyễn Lê L không có giấy phép lái xe theo quy định, đã uống rượu bia có nồng độ cồn trong máu 194mg/dl máu, điều khiển xe môtô biển số 70K1-307.28 lưu thông trên đường T có dãy phân cách cứng phân chia phần đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, theo hướng từ xã T, huyện T đi hướng xã S, huyện T. Khi đi đến khu vực ấp C, xã S, huyện T, do Nguyễn Lê L điều khiển xe lưu thông ngược chiều không đúng quy định, dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 70K8-7406 do bà Nguyễn Thị L1 điều khiển chạy cùng chiều bên phải phần đường theo hướng di chuyển và đang chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái dẫn đến tai nạn làm cho bà Nguyễn Thị L1 tử vong do dập não/chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo Nguyễn Lê L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Do đó Bản cáo trạng số 148/CT-VKSTC ngày 30-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố đối với bị cáo Nguyễn Lê L và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Nguyễn Lê L là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 9, 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6 Điều 5; khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại rượu bia và xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của bị cáo, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.
[4] Tuy nhiên, khi quyết định hành phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo.
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Lê L có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 số tiền 97.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Lê L có ông nội tên Nguyễn Lê S được tặng thưởng Huy chương chiến thắng hạng nhì, bà ngoại tên Thái Thị T2 được nhận giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Lê L là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả làm chết một người, nên xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Lê L không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Ngày 22-11-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 70K1-307.28 cho Nguyễn Lê L là chủ sở hữu hợp pháp và chuyển Đội CSĐTTP về kinh tế và chức vụ Công an huyện T 01 (một) xe mô tô biển số 70K8-7406 có số khung, số máy bị đục xóa không xác định được nguyên thuỷ, không có giấy tờ để xử lý theo quy định, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 591, 601 Bộ luật Dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 đã nhận số tiền bồi thường 97.000.000 (chín mươi bảy triệu) đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên cần ghi nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lê L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê L 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 591, 601 Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1 đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại 97.000.000 (chín mươi bảy triệu) đồng của bị cáo Nguyễn Lê L; không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Lê L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Lê L, người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L1, người đại diện hợp pháp của ông Phạm Tấn H2, bà Nguyễn Thị O được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Quyên |
Bản án số 153/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 153/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Lê L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
