|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày: 29/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Tý - Giáo viên về hưu
- 2. Ông Phạm Thuận - Hưu trí
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Quân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST–HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Trần Minh T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam, sinh ngày 04/3/2007 tại thành phố Đà Nẵng (thời điểm phạm tội 17 tuổi 01 tháng 21 ngày); Nơi ĐKHKTT: Tổ C, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện nay: Số K đường T, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Trình độ học vấn: Lớp10/12; Con ông: Trần Văn T1 (sinh năm: 1987) và bà Nguyễn Thị Thanh T2 (sinh năm 1988);
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/9/2024, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/5/2024. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Hoàng Phương N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12/6/2006 tại thành phố Đà Nẵng; (thời điểm phạm tội 17 tuổi 10 tháng 13 ngày); Nơi thường trú: Tổ E phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện tại: Số K đường L, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Con ông: Nguyễn Mạnh H (sinh năm 1971) và con bà Hoàng Thị Bích T3 (sinh năm: 1973);
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/9/2024, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/5/2024. Có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Hữu Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05/7/2007 tại thành phố Đà Nẵng; (thời điểm phạm tội 16 tuổi 09 tháng 20 ngày); Nơi thường trú: Thôn N, xã Đ huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện tại: Số F N, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Con ông Nguyễn Hữu P (sinh năm: 1977) và con bà Huỳnh Thị G (sinh năm 1980);
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/9/2024, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/11/2024. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Trần Trà N1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ C phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Minh T: Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1987 và bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1988; Cùng nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
* Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu Đ: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1977 và bà Huỳnh Thị G, sinh năm 1980; Cùng nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Cùng nơi ở hiện nay: K đường N, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Ông P có mặt, bà G vắng mặt).
* Người bào chữa:
- + Bào chữa của bị cáo Trần Minh T: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N2, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ; địa chỉ: Số F đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- + Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Phương N: Luật sư Võ Văn T4, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ; địa chỉ: Số F đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- + Bào chữa của bị cáo Nguyễn Hữu Đ: Luật sư Nguyễn Thị O, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ; địa chỉ: Số F đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1977; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi ở hiện nay: Số K đường N, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- - Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Số A đường Y, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- - Em Phan Thanh T5, sinh ngày 19/12/2008. Đại diện hợp pháp của em Phan Thanh T5: Ông Phan Thanh Minh V và bà Hứa Thị T6. Cùng nơi cư trú: Số K đường N, tổ G, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 25/4/2024, Phan Thanh T5 điều khiển xe mô tô biển số 43AE- 010.73 chở Trần Minh T, Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số 92E-676.37 chở Nguyễn Hoàng Phương N đến khu vực suối đá ở đường L, phường T, quận S, TP . để T đi vào trong bụi cây ven đường lấy một cây kìm cộng lực dài gần một mét đã cất giấu trước đó. T5 dùng cà lê tháo biển số của hai xe mô tô trên cất giấu ở bụi cây gần đó rồi tất cả đi tìm nơi sở hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trước quán C số A N, quận T, TP . thì dừng lại. Lúc này T5 và T cầm kìm cộng lực đi vào bẻ khoá cửa đột nhập vào phía trong còn Đ và N đứng ở ngoài. Khi vào bên trong quán T5 và T đã lấy trộm được số tiền 3.000.000đ của chị Trần Trà N1 để ở trong két tiền ở quầy lễ tân rồi cả hai đi ra ngoài thấy Đ nhảy lên xe rồ ga bỏ chạy trước, còn N nổ máy thông báo cho T5, T biết là có công an đến, lúc này T và T5 chạy ra ngoài nhảy lên xe mô tô Nam đợi sẵn điều khiển bỏ chạy đồng thời để vứt bỏ kìm cộng lực tại hiện trường. Tài sản chiếm đoạt được T5, T, N, Đ khai nhận đã chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Qua điều tra Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
* Tang vật tạm giữ:
- - 01(một) USB bên trong có nội dung vụ việc trộm cắp tài sản ở số A N, phường V, T, Đà Nẵng vào ngày 25/4/2024 (lưu cùng hồ sơ vụ án).
- - Đối với 01(một) kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen dài khoảng 80cm; 03 (ba) ổ khoá bị cắt hư hỏng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP. bảo quản, quản lý trong giai đoạn xét xử.
Tại bản Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 23/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ về tội " Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự "
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Minh T mức án từ 09 tháng đến 15 tháng tù.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Phương N mức án từ 06 tháng đến 12 tháng tù.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ mức án từ 06 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu 01(một) kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen dài khoảng 80cm; 03 (ba) ổ khoá bị cắt hư hỏng.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo T, N, Đ thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng đã truy tố, thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để được sớm trở về với gia đình.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ phát biểu và thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố cũng như các tình tiết giảm nhẹ như lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo T, N, Đ. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò, động cơ mục đích, hoàn cảnh gia đình các bị cáo và chế độ xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội để xem xét, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cải tạo với mức hình phạt nhẹ nhất để có điều kiện học tập và làm việc trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận T, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/4/2024, Phan Thành T7 điều khiển xe mô tô biển số 43AE- 010.73 chở bị cáo Trần Minh T cầm theo 01 cây kìm cộng lực cùng bị cáo Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số 92E-676.37 chở bị cáo Nguyễn Hoàng Phương N đến trước quán cà phê ở số A N, quận T, TP .; các bị cáo T7 và T cầm kìm cộng lực đi vào bẻ khoá cửa đột nhập vào phía trong lấy trộm số tiền 3.000.000đ của chị Trần Trà N1 để trong két tiền ở quầy lễ tân. Sau khi lấy tài sản cả nhóm tiêu xài cá nhân hết.
Do đó, hành vi của các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 23/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Xét về động cơ mục đích phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy bị cáo bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Các bị cáo thiếu sự quản lý, giáo dục của gia đình, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, các bị cáo nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi ích trước mắt, các bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tạo ra dư luận xấu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo và nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo có tuổi đời còn rất trẻ, khi thực hiện hành vi phạm tội có các bị cáo T, N, Đ chưa đủ 18 tuổi.
[4] Xét hành vi phạm tội của từng bị cáo thì thấy:
Trong vụ án này, Phan Thanh T5 (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) T5 dùng cà lê tháo biển số của hai xe mô tô cất giấu ở bụi cây gần đó rồi cùng các bị cáo T, N và Đ đi tìm nơi sở hở để trộm cắp tài. T5 là người rủ rê, khởi xướng bị cáo T, N, Đ thực hiện việc trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài.
Đối với bị cáo Trần Minh T gia tích cực, bị cáo T chuẩn bị cầm kìm cộng lực, dùng kìm cộng lực đi vào bẻ khoá cửa đột nhập vào phía trong, là người trực tiếp vào lấy tài sản trộm cắp. Đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng Phương N và Nguyễn Hữu Đ tham gia trộm cắp tài sản với vai trò là cảnh giới. Như vậy, trong vụ án này bị cáo T tham gia với vai trò tích cực hơn các bị cáo N và Đ, do đó hình phạt dành cho bị cáo Trần Minh T phải cao hơn Nguyễn Hoàng Phương N và Nguyễn Hữu Đ là phù hợp.
Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án thật nghiêm khắc để răn đe đối với các bị cáo, tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra để các bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Xét về nhân thân các bị cáo T, N, Đ đều có nhân thân xấu từng bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T, N, Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Gia đình các bị cáo T, N, Đ có ông bà tham gia cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Gia đình bị cáo T và N có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử đã xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
Đối với các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ tại thời điểm phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo T, N, Đ đã bồi thường số tiền 3.000.000đ cho bị hại Trần Trà N1, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Đối với 01(một) kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen dài khoảng 80cm; 03 (ba) ổ khoá bị cắt hư hỏng không còn giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy. Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- - Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01(một) USB bên trong có nội dung vụ việc trộm cắp tài sản ở số A N, phường V, T, Đà Nẵng vào ngày 25/4/2024.
[8] Về các vấn đề khác:
Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T xác định: 02 ổ khoá Việt Tiệp kích thước (8x6cm), 01 ổ khoá Yeti kích thước (9x6cm) có giá trị là 293.000đ. Đối với hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ với giá trị tài sản bị hư hỏng qua định giá là 293.000đ, chưa đủ định lượng xử lý hình sự. Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP bằng hình thức “Phạt tiền” số tiền 2.000.000đ là có căn cứ.
Đối với Phan Thanh T5 (sinh ngày 19/12/2008 tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm là 15 tuổi 04 tháng 06 ngày chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP và “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP bằng hình thức “Cảnh cáo” là có căn cứ.
Đối với xe mô tô BKS 92E1-676.37 là của ông Nguyễn Hữu P đứng tên chủ sở hữu, ngày 25/4/2024 bị cáo Đ tự ý lấy xe máy nêu trên đi trộm cắp tài sản nhưng ông P không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với xe mô tô BKS 43AE -010.73 là của Nguyễn Thị Thanh T2 đứng tên chủ sở hữu, ngày 25/4/2024 bị cáo T tự ý lấy xe máy nêu trên đi trộm cắp tài sản nhưng bàThuỷ không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[9] Án phí HSST: Các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
[10] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh T 09 (chín) tháng tù.
Căn cứ Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của bản án này và bản án số 111/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, TP . buộc bị cáo Trần Minh T phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2024.
2. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Phương N 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của bản án này và bản án số 111/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, TP . buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Phương N phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2024.
3. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của bản án này và bản án số 111/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, TP . buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
II.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01(một) kìm cộng lực màu xanh, tay cầm màu đen dài khoảng 80cm; 03 (ba) ổ khoá bị cắt hư hỏng.
- (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/10/2024).
III. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Minh T, Nguyễn Hoàng Phương N, Nguyễn Hữu Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
IV. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Bảo Huyền Trân |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/4/2024, Phan Thành T7 điều khiển xe mô tô biển số 43AE- 010.73 chở bị cáo Trần Minh T cầm theo 01 cây kìm cộng lực cùng bị cáo Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển số 92E-676.37 chở bị cáo Nguyễn Hoàng Phương N đến trước quán cà phê ở số A N, quận T, TP .; các bị cáo T7 và T cầm kìm cộng lực đi vào bẻ khoá cửa đột nhập vào phía trong lấy trộm số tiền 3.000.000đ của chị Trần Trà N1 để trong két tiền ở quầy lễ tân. Sau khi lấy tài sản cả nhóm tiêu xài cá nhân hết.
