|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày 29-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Biên, bà Đặng Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 142/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thu H, sinh năm 1979; Tên gọi khác: Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Thu H2; Nơi thường trú và cư trú: Thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ ba; Chồng: Bùi Văn K, sinh năm 1976; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2020/HS-ST ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng về tội “Đánh bạc”; ngày 04/01/2024 bị cáo H2 mới chấp hành nộp tiền phạt bổ sung và khoản tiền bị truy thu, bị cáo chưa được xoá án tích; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Q, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Số nhà B, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1952. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/10/2020, Nguyễn Thu H2 bị kết án về tội “Đánh bạc” bằng Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2020/HS-ST của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tại bản án này, Nguyễn Thu H2 bị xử phạt 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng; phạt bổ sung 10.000.000 đồng và truy thu số tiền 2.560.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên đến ngày 04/01/2024, Nguyễn Thu H2 mới chấp hành nộp tiền phạt bổ sung và khoản tiền bị truy thu nên chưa được xoá án tích theo quy định.
Ngày 23/12/2023, ngày 25/12/2023 và ngày 03/01/2024, Nguyễn Thu H2 tiếp tục có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi các số lô, số đề cho khách. H2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus lắp sim số 0384.181.187 đăng ký mang tên của H2 để nhận các số lô, số đề do khách gọi đến đánh. H2 thoả thuận với người chơi sẽ thu mỗi 01 điểm lô là 23.000 đồng nếu trúng sẽ được trả 80.000 đồng; dạng đề nếu trúng sẽ được trả thưởng gấp 80 lần số tiền cược; việc đối chiếu thắng thua căn cứ vào kết quả xổ số miền B mở thưởng hàng ngày. H2 tự giữ lại cáp đề và trực tiếp thanh toán thắng thua với người chơi bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản số 0384181187 của H2 mở tại Ngân hàng M. Phạm Thị Q có quen biết Nguyễn Thu H2 từ trước và biết H2 nhận các số lô, số đề. Q sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro lắp sim số 0967.622.923 gọi điện cho H2 theo số điện thoại 0384.181.xxx đặt mua các số lô, số đề. Q tự ghi âm lại các cuộc gọi để làm căn cứ thanh toán thắng thua.
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 03/1/2024, Công an phường T, thành phố B kiểm soát chị Phạm Thị Q và thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro. Kiểm tra điện thoại thấy mục ghi âm còn lưu 03 file ghi âm liên lạc với Nguyễn Thu H2 có nội dung mua bán các số lô, số đề trong các ngày 23/12/2023, 25/12/2023 và 03/01/2024; mục Zalo có lưu các hình ảnh chụp thông tin chuyển tiền thanh toán đến tài khoản 0384181187 tại Ngân hàng M của bị cáo H2. Công an phường T đã chuyển vật chứng, tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố B để giải quyết. Căn cứ kết quả giám định giọng nói 03 file ghi âm trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro thu giữ của Phạm Thị Q và kết quả điều tra đã xác định bị cáo Nguyễn Thu H2 đánh bạc 03 lần vào 03 ngày như sau:
Lần thứ nhất: Hồi 17 giờ 17 phút ngày 23/12/2023, chị Phạm Thị Q dùng số điện thoại 0967.622.xxx gọi cho bị cáo Nguyễn Thu H2 theo số điện thoại 0384.181.xxx đặt mua các số lô 09, 90 mỗi số 15 điểm tương ứng với số tiền 690.000 đồng; các số đề dạng đặc biệt 09, 90 mỗi số 50.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì chị Q không trúng. Tổng số tiền bị cáo H2 đánh bạc là 790.000 đồng. Cùng ngày, chị Q đã chuyển khoản thanh toán cho bị cáo H2 790.000 đồng.
Lần thứ hai: Hồi 17 giờ 37 phút ngày 25/12/2023 bằng phương thức tương tự, chị Phạm Thị Q gọi điện cho bị cáo Nguyễn Thu H2 đặt mua số đề đặc biệt 58, 85 mỗi số 50.000 đồng; các số lô 58, 85 mỗi số 20 điểm tương ứng với số tiền 920.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì chị Q không trúng. Tổng số tiền bị cáo H2 đánh bạc là 1.020.000 đồng. Chị Q đã chuyển khoản thanh toán cho bị cáo H2.
Lần thứ ba: Hồi 15 giờ 55 phút ngày 03/1/2024, chị Phạm Thị Q gọi điện cho bị cáo Nguyễn Thu H2 đặt mua các số lô 14, 41 mỗi số 10 điểm tương ứng với số tiền 230.000 đồng; mua các số đề dạng đặc biệt 14, 41 mỗi số 50.000 đồng. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an phường T phát hiện chị Q có hành vi đánh bạc và thu giữ chiếc điện thoại. Tổng số tiền bị cáo H2 đánh bạc là 560.000 đồng. Chị Q đã chuyển khoản thanh toán cho bị cáo H2.
Ngày 03/01/2024, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thu H2 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus lắp sim số 0384.181.187 mà H2 sử dụng để liên lạc nhận các cuộc gọi của Q ghi các số lô, số đề. Kiểm tra điện thoại thấy có cuộc gọi đến từ số điện thoại 0967.622.xxx của Phạm Thị Q hồi 15 giờ 15 phút ngày 03/01/2024, thời lượng 24 giây. Xác minh tại Tập đoàn V xác định đăng ký số thuê bao 0384.181.187 mang tên Nguyễn Thị Thu H2; đăng ký số thuê bao 0967.622.923 mang tên Phạm Thị Q, từ ngày 15/12/2023 đến ngày 03/01/2024 có phát sinh các cuộc gọi liên lạc với nhau. Kết quả xác minh xác định: Tài khoản số 0384181187 tại Ngân hàng M mang tên Nguyễn Thị Thu H2; Tài khoản số [...] tại Ngân hàng V1 mang tên Phạm Thị Q có phát sinh giao dịch: Ngày 23/12/2023, Q chuyển cho H2 790.000 đồng; ngày 25/12/2023, Q chuyển cho H2 1.230.000 đồng; ngày 03/01/2024, Q chuyển 560.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tiếng nói của Nguyễn Thị Thu H2 và Phạm Thị Q trong các file ghi âm lưu trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro thu giữ của Phạm Thị Q. Kết luận giám định số 669/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của V2 - Bộ C1 kết luận:
“- Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong mẫu cần giám định.
- Tiếng nói của người nữ (ký hiệu “Quyên” trong Bản dịch nội dung âm thanh mẫu cần giám định) trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Phạm Thị Q trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Tiếng nói của người nữ (ký hiệu “Hà” trong Bản dịch nội dung âm thanh mẫu cần giám định) trong file Ghi âm cuộc gọi 0384181187_231225_173705.m4a (thời lượng 58 giây) mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Thị Thu H2 trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Không giám định tiếng nói của chị Nguyễn Thị Thu H2 trong các file Ghi âm cuộc gọi 0384181187_231223_171744.m4a (thời lượng 00 phút 36 giây) và Ghi âm cuộc gọi 0384181187_240103_155535.m4a (thời lượng 23 giây) do mẫu cần giám định có chất lượng kém.
Nội dung hội thoại trong mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản."
Quá trình điều tra, Nguyễn Thu H2 khai có tên gọi khác là Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị Thu H2. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dấu vân tay trên chỉ bản của Nguyễn Thu H2 so với dấu vân tay trên chỉ bản số 296 do Công an thành phố B lập ngày 20/6/2020 ghi tên Nguyễn Thị H2, sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã S, thành phố B. Kết luận giám định số 967/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: “Các dấu vân in trên Chỉ bản số 296, do Công an thành phố B lập ngày 20/6/2020, ghi tên Nguyễn Thị H2, sinh năm 1979, Nơi cư trú: thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang so với các dấu vân trên các Chỉ bản ghi tên Nguyễn Thu H2, sinh năm 1979, N thường thú: thôn T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang là của cùng một người.”
Tại bản Cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 11 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thu H2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H2 từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.0000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm a, điển b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Trả lại chị Phạm Thị Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, đã qua sử dụng.
2.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Thu H2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, đã qua sử dụng.
2.3. Truy thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Thu H2 số tiền 2.370.000₫ (Hai triệu, ba trăm, bẩy mươi nghìn đồng).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thu H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi của bị cáo: Căn cứ Biên bản kiểm sát do Công an phường T, thành phố B lập hồi 16 giờ 40 phút ngày 03/01/2024; Biên bản kiểm tra điện thoại của Phạm Thị Q do Công an phường T, thành phố B lập hồi 17 giờ 05 phút ngày 030/1/2024; Kết luận giám định số 669/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của V2 - Bộ C1; Kết luận giám định số 967/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ. Căn cứ lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Thu H2 đã bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xoá án tích nhưng từ ngày 23/12/2023 đến ngày 03/01/2024 bị cáo đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái phép cho chị Phạm Thị Q. Cụ thể như sau: Ngày 23/12/2023, tổng số tiền bị cáo H2 đánh bạc là 790.000 đồng (trong đó: Bị cáo bán cho chị Q các số lô với số tiền 690.000 đồng; các số đề dạng đặc biệt với số tiền 100.000 đồng). Ngày 25/12/2023, tổng số tiền bị cáo H2 đánh bạc là 1.020.000 đồng (trong đó: Bị cáo nhận của chị Q số đề đặc biệt với số tiền 100.000 đồng; các số lô với số tiền 920.000 đồng). Ngày 03/01/2024, tổng số tiền bị cáo H2 đánh bạc là 560.000 đồng (trong đó: Bị cáo bán cho chị Q các số lô với số tiền 460.000 đồng; các số đề dạng đặc biệt với số tiền là 100.000 đồng). Tổng số tiền bị cáo đánh bạc với chị Q là 2.370.000 đồng. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để kiếm lời đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi đánh bạc của bị cáo với số tiền 2.370.000 đồng trong thời gian bị cáo chưa được xoá án tích về tội đánh bạc đã bị kết án trước đó, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh, khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, cần phải bài trừ, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và cũng là nguyên nhân làm khánh kiệt, suy giảm kinh tế gia đình, bị dư luận quần chúng nhân dân lên án. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong khoảng thời gian từ ngày 23/12/2023 đến ngày 03/01/2024 bị cáo đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi đánh bạc. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
[7] Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
[8] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo để vừa có tác dụng giáo dục cải tạo riêng, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích để kiếm lời nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định phạt bổ sung bị cáo với số tiền như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[10] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật thu giữ:
- Căn cứ vào điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại chị Phạm Thị Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, đã qua sử dụng.
- Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus đã qua sử dụng là điện thoại bị cáo H2 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Đối với số tiền 2.370.000 đồng là tiền bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần truy thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Đối với chị Phạm Thị Q có hành vi đánh bạc với bị cáo Phạm Thu H3 trong 3 ngày nêu trên. Ngày 13/4/2022, chị Q đã bị Công an phường X, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng và đã chấp hành xong nộp tiền phạt nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do số tiền mà Q đánh bạc không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H2 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo bằng tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:
[3.1] Trả lại chị Phạm Thị Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, đã qua sử dụng.
[3.2] Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Thu H2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, đã qua sử dụng.
[3.3] Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.370.000đ (Hai triệu, ba trăm, bẩy mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thu H2.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 110/QĐ-VKS, ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/7/2024 giữa bên giao là Công an thành phố B với bên nhận là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thu H2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thu H2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
