Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 153/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 – 07 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Thanh Tùng
  • Bà Trần Thị Min

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Ngày 29 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 219/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 04 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 06 năm 2024 giữa:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ý N – sinh năm: 1980 (có mặt).
  • Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Phan Văn H – sinh năm: 1983 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 04 năm 2024 và tại phiên họp ngày 31 tháng 05 năm 2024 bà Phạm Thị Ý N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Phan Văn H chung sống như vợ chồng từ năm 2003, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn H.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 người con chung tên Phan Huỳnh N1, sinh ngày 30/03/2004; Phan Cẩm H1, sinh ngày 25/7/2008 và Phan Phạm Khánh B, sinh ngày 19/8/2011. Đối với cháu Phan Huỳnh N1 đã trưởng thành, có sức khỏe bình thường tự lao động nuôi sống bản thân được không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Cẩm H1Khánh B hiện nay đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu H1 và cháu B, không yêu cầu ông H cấp đưỡng.

Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng bà không nợ ai, không ai nợ vợ chồng bà nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Phan Văn H kể từ khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập để xét xử nhưng ông Phan Văn H vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ý N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Phan Văn H đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Phan Văn H có địa chỉ tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Ý N khởi kiện ra Tòa án yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn H. Hội đồng xét xử xét thấy bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương vào năm 2003 nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Mối quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên bố không công nhận bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H là vợ chồng.

[3.2] Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 người con chung tên Phan Huỳnh N1, sinh ngày 30/03/2004; Phan Cẩm H1, sinh ngày 25/7/2008 và Phan Phạm Khánh B, sinh ngày 19/8/2011. Đối với cháu Phan Huỳnh N1 đã trưởng thành, có sức khỏe bình thường tự lao động nuôi sống bản thân được không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Cẩm H1Khánh B hiện nay đang sống với bà N. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu H1 và cháu B, không yêu cầu ông H cấp đưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng đối với cháu Phan Huỳnh N1, sinh ngày 30/03/2004 hiện nay đã trưởng thành có sức khỏe bình thường bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xé xử không đặt ra xem xét là phù hợp.

Đối với cháu Phan Cẩm H1, sinh ngày 25/7/2008 và Phan Phạm Khánh B, sinh ngày 19/8/2011 từ khi sinh ra cho đến nay sống chung với bà N, có sức khỏe bình thường, phát triển về thể chất và tinh thần như bao đứa trẻ cùng trang lứa khác. Hiện tại các cháu cũng được đi học đầy đủ. Tại biên bản ghi ý kiến của cháu Phan Cẩm H1 và cháu Phan Phạm Khánh B vào ngày 03 tháng 6 năm 2024 cháu Cẩm H1 và cháu Khánh B có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là bà Phạm Thị Ý N. Đối với ông Phan Văn H không có bất kỳ ý kiến nào về việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phan Cẩm H1, sinh ngày 25/7/2008 và Phan Phạm Khánh B, sinh ngày 19/8/2011 cho bà Phạm Thị Ý N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về vấn đề cấp dưỡng bà N không đặt ra nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H xác định ông, bà tự thỏa thỏa thuận về tài sản chung. Về nợ chung bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H thống nhất xác định vợ chồng ông, bà không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng ông bà, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H có phát sinh tranh chấp chấp về tài sản chung và nợ chung thì bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị Ý N phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các điều 9, 14, 51, 53, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ý N đối với ông Phan Văn H.

  1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị Ý N và ông Phan Văn H là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cháu Phan Cẩm H1, sinh ngày 25/7/2008 và Phan Phạm Khánh B, sinh ngày 19/8/2011 cho bà Phạm Thị Ý N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Phan Văn H không phải cấp dưỡng con.

    Người không trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  3. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ý N phải chịu số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013070 ngày 16 tháng 04 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước. Bà Phạm Thị Ý N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Phan Văn H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

    Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành ánh dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Án xử sơ thẩm công khai Bà Phạm Thị Ý N có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phan Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - UBND xã Đông Thới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 153/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu được ly hôn ông H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger