Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN DU

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HSST

Ngày 26/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Lưu

2. Ông Nguyễn Hữu Thắng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh; Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024, đối với các bị cáo:

  1. Lương Văn M, sinh năm 1987;

    Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lương Văn H, sinh năm 1964, đã chết và bà Quang Thị D, sinh năm 1965; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Vi Thị T, sinh năm 1987; con: 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Tại Bản án số 09/2016/HSST ngày 29/2/2016, TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 2 năm 6 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS 1999. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 02/3/2018.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B.

  2. Lê Văn H1, sinh năm 1990;

    Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Bản Na Lạnh, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Lộc Thị H2 – đã chết; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lô Thị H3, sinh năm 1995 – Đã ly hôn; con: 01 con sinh năm 2017;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Tại Bản án số 04/2014/HSST ngày 26/2/2014, TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 2 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 18/8/2015.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, tại dãy trọ gia đình bà Trần Thị H4 thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện T phối hợp với Công an xã H kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lê Văn H1, sinh năm 1990 có hộ khẩu thường trú (HKTT) ở bản N, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Vật chứng thu giữ:

Trong lòng bàn tay trái của H1 đang cầm có 01 gói nilon màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng, H1 khai nhận đây là gói ma tuý H5 vừa mua được của Lương Văn M, sinh năm 1987, HKTT: bản Hốc, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong ký hiệu M1.

Tại túi quần trước bên trái của H1 đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, có gắn sim, H1 khai nhận đây là điện thoại di động dùng để liên lạc với M để mua ma tuý.

Ngày 24/4/2024 CQCSĐT Công an huyện T thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lương Văn M, phát hiện, thu giữ tại túi quần trước bên phải của M đang mặc có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, bên trong có gắn sim, M khai nhận là điện thoại dùng để liên lạc mua bán ma túy với H1; Số tiền 500.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 50.000đ) là tiền mà M bán ma túy cho H1 mà có.

Cùng ngày, CQCSĐT Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của M tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét phát hiện, thu giữ tại gầm giường có: 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 chiếc dao lam bằng kim loại, 01 hộp giấy bên trong có túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng, cơ quan Công an niêm phong ký hiệu M2. M khai nhận đây là ma tuý và các công cụ để chia nhỏ ma tuý của M.

Tại bản Kết luận giám định số: 1076/TKLGĐMT-PC09 ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,2907 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine (H)

Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 3,0932 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: H (H).

Tổng khối lượng ma tuý Heroin: 3,3839 gam.

CQĐT tiến hành xét nghiệm nước tiểu của M, H1, kết quả cả hai dương tính với chất ma tuý Heroin.

CQĐT tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của M, H1 phát hiện có các cuộc gọi liên quan đến việc ma bán ma tuý.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà Lương Văn M, Lê Văn H1 khai nhận : Khoảng hơn 10 giờ ngày 24/4/2024, M đang ở phòng trọ tại thôn Đ, xã H, do có nhu cầu sử dụng ma túy H5 và mua ma túy về bán kiếm lời nên M đi bộ ra khu vực bến xe thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy. Tại đó M hỏi mua được của một người đàn ông lạ mặt đứng ở rìa đường 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy Heroin với giá 3.000.000 đồng, rồi đi bộ ra ngoài cánh đồng không nhớ địa chỉ để sử dụng một phần ma túy. Sau đó M đi bộ về phòng trọ và cất giấu túi ma túy vừa mua vào trong hộp giấy để ở gầm giường và không cho ai khác biết, nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày khi H1 đang ở phòng trọ tại thôn Đ, xã H. Do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroin nên H1 nhắn tin qua Zalo cho M là “anh cho em 500k với nhá”, tức là H1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroin. Lúc này M đang ở ngoài chợ thôn Đ nên trả lời là “A đang đi lấy tầm 15h a mới về đến phòng a alô e nhé” và hẹn H1 15 giờ thì đến phòng Mạo mua bán ma tuý. Đến hơn 15 giờ Mạo về đến phòng trọ thì thấy vợ của M là chị Vi Thị Tuyết n ở ngoài cửa phòng. Mạo ở trong phòng lấy túi ma túy mua lúc trước ra dùng dao lam cắt một phần ma túy thành mảnh nilon màu trắng chứa ma tuý Heroin rồi dùng bật lửa hơ gói kín lại, M cất lại túi ma túy vào hộp giấy để ở gầm giường và cầm gói ma túy vừa chia được trong lòng bàn tay trái để bán cho H1, sau đó M nhắn tin qua Zalo bảo Hoàng đến phòng trọ của M.

Sau khi nhận được tin nhắn của M, H1 đi bộ đến phòng trọ của M thì gặp T đang ngồi ngoài cửa. H1 đi vào trong phòng đưa cho M 500.000đ (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 50.000đ), M cầm tiền đồng thời đưa lại cho Hoàng gói ma túy H5 vừa chia, M cất tiền bán ma túy cho H1 vào túi quần trước bên phải, H1 cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về phòng trọ của H1. Khi H1 vừa vào phòng trọ của mình thì bị lực lượng C kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 92/CT-VKSTD ngày 05/8/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố Lương Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố Lê Văn H1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo nhận tội và khai nhận: Hơn 10 giờ ngày 24/4/2024 M một mình đi mua ma tuý của người không quen biết ở thành phố T, tỉnh Bắc Ninh được 01 gói nilon chứa ma tuý với giá 3.000.000đ. Mạo sử dụng một phần số ma tuý này, phần còn lại Mạo cất giấu ở gầm giường phòng trọ mục đích bán để kiếm lời và không cho ai biết.

Chiều ngày 24/4/2024 tại phòng trọ của M ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, M đã bán trái phép 0,2907 gam ma tuý Heroin cho H1 với giá 500.000₫. Sau khi mua được ma tuý, H1 mang về phòng trọ của H1 ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh với mục đích sử dụng. Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi H1 vừa đến phòng trọ thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang Hoàng tàng trữ trái phép 0,2907 gam ma tuý Heroin mục đích để sử dụng.

Ngoài ra, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mạo của phát hiện M còn cất giấu 3,0932 gam ma tuý Heroin nhằm mục đích để bán kiếm lời. Như vậy tổng khối lượng ma tuý Mạo bán và tàng trữ trái phép để bán kiếm lời là 3,3839 gam ma tuý Heroin.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lương Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Lê Văn H1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lương Văn M từ 48 tháng đến 54 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn H1 từ 18 tháng đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định (2,4995 gam) được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dấu niêm phong và chữ ký Giám định viên phòng PC09 - Công an tỉnh B, 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 chiếc dao lam bằng kim loại, 01 hộp giấy các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, có gắn sim thu của H1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, bên trong có gắn sim thu của M, 500.000 đồng là số tiền bị cáo thu lời bất chính.

Các bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở khẳng định: Hơn 10 giờ ngày 24/4/2024 M một mình đi mua ma tuý của người không quen biết ở thành phố T, tỉnh Bắc Ninh được 01 gói nilon chứa ma tuý với giá 3.000.000đ. Mạo sử dụng một phần số ma tuý này, phần còn lại Mạo cất giấu ở gầm giường phòng trọ mục đích bán để kiếm lời và không cho ai biết.

Chiều ngày 24/4/2024 tại phòng trọ của M ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, M đã bán trái phép 0,2907 gam ma tuý Heroin cho H1 với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma tuý, H1 mang về phòng trọ của H1 ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh với mục đích sử dụng. Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi H1 vừa đến phòng trọ thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang Hoàng tàng trữ trái phép 0,2907 gam ma tuý Heroin mục đích để sử dụng.

Ngoài ra, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mạo của phát hiện M còn cất giấu 3,0932 gam ma tuý Heroin nhằm mục đích để bán kiếm lời. Như vậy tổng khối lượng ma tuý Mạo mua bán trái phép để bán kiếm lời là 3,3839 gam ma tuý Heroin.

Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo Lương Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lê Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma túy cũng là nguyên nhân của các tội phạm hình sự khác. Vì vậy, hành vi của các bị cáo cần được xử phạt nghiêm bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Lương Văn M và Lê Văn H1 đều có nhân thân xấu. Nhân thân:

Bị cáo Lương Văn M bị TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 2 năm 6 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 tại Bản án số 09/2016/HSST ngày 29/2/2016. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 02/3/2018.

Bị cáo Lê Văn H1 bị TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 2 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 tại Bản án số 04/2014/HSST ngày 26/2/2014,. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 18/8/2015.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biết khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với số ma tuý còn lại sau giám định (2,4995 gam) được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dấu niêm phong và chữ ký Giám định viên phòng PC09 - Công an tỉnh B cần tịch thu, tiêu hủy là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, có gắn sim thu của H1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, bên trong có gắn sim thu của M cần tịch thu sung quỹ nhà nước là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 chiếc dao lam bằng kim loại, 01 hộp giấy các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ là đúng quy định pháp luật.

Đối với số tiền 500.000 đồng là số tiền bị cáo thu lời bất chính cần tịch thu sung quỹ nhà nước là đúng quy định pháp luật.

[6] Liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Mạo ngày 24/4/2024 tại khu vực bến xe thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và những người bán ma tuý cho M, H1 trước đó, cả 2 khai nhận đều không quen biết, không có số điện thoại, chỉ dựa vào lời khai của M, H1 không đủ căn cứ để xác định con người cụ thể, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với các đối tượng mua ma túy của Mạo trước đó, M khai nhận không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể, không có số điện thoại của những người này, sau khi người nào gọi điện thoại hay nhắn tin cho M để hỏi mua ma tuý xong thì M xoá luôn, chỉ dựa vào lời khai của M không đủ căn cứ để xác định con người cụ thể. Do vậy, CQĐT tiếp tục điều tra, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với vợ của M là chị Vi Thị Tuyết. Quá trình điều tra xác định việc M bán ma túy, cất giấu ma túy, sử dụng ma túy chị T không biết. Cơ quan Công an đã tiến hành xét nghiệm ma túy đối với T (kết quả âm tính) nên CQĐT chỉ giáo dục, nhắc nhở là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của M, H1 trước đó, cả hai đều không biết, không nhớ địa điểm cụ thể nơi sử dụng là ở đâu, do đó chưa xác định được thẩm quyền xử lý. Do vậy, chưa có đủ căn cứ xử lý hành chính đối với M, H1 nên CQĐT tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Lê Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử phạt Lương Văn M 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử phạt Lê Văn H1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

    Tịch thu, tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định (2,4995 gam) được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dấu niêm phong và chữ ký Giám định viên phòng PC09 - Công an tỉnh B, 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 chiếc dao lam bằng kim loại, 01 hộp giấy các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

    Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, có gắn sim thu của H1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, bên trong có gắn sim thu của M, 500.000 đồng là số tiền bị cáo thu lời bất chính.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn M và bị cáo Lê Văn H1.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh;
  • - VKS, CA, THADS huyện Tiên Du;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BN;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu HS, VP;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Anh Văn

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 153/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MBTPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger