Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HSST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Yến Linh

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Toàn

2/ Ông Nguyễn Văn Đô

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Nguyễn Thị Kim Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với:

Lê Ngọc T, (tên gọi khác: P) Giới tính: N – Sinh năm: 1975 tại Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT: Khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố F, phường P, thành phố P; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ. Con ông: Lê Ngọc Á (Đã chết) và con bà: Lê Thị T1 (không rõ năm sinh); Vợ: Nguyễn Hoàng Yến L, sinh năm 1979; Con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 09/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện cư trú tại khu phố F, phường P, thành phố P. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/7/2024 theo Quyết định bắt tạm giam của Chánh án Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết ngày 08/7/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 18/12/2023, Lê Ngọc T sử dụng số điện thoại 0906.675.xxx gọi cho 01 người thanh niên tên N1 (không rõ nhân thân, không nhớ số điện thoại) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì N1 đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, N1 đi đến nhà T tại số O, khu phố F, phường P, thành phố P giao cho T 01 gói nylon chứa ma túy đá rồi bỏ đi, N1 sẽ đến lấy tiền sau. Sau khi nhận được ma túy, T lấy một ít ra sử dụng rồi cất gói ma túy vào túi áo khoác màu trắng treo ở tủ quần áo trong phòng ngủ của T. Đến ngày 28/12/2023, T tiếp tục lấy một ít ma túy trong gói nylon trên ra để sử dụng, số còn lại cất vào trong túi áo khoác trong tủ quần áo. Đến khoảng 22 giờ 20 phút ngày 31/12/2023, Công an phường P kiểm tra hành chính, phát hiện trong túi áo khoác của T được cất trong tủ quần áo có 01 gói nylon không màu, một đầu viền màu đỏ có khóa nhíp, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng Công an phường đã thu giữ những tang vật có liên quan và đưa T về trụ sở làm việc.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 gói nylon không màu, một đầu viền màu đỏ có khóa nhíp, bên trong chứa tinh thể màu trắng, kích thước khoảng (04 x 07) cm: thu giữ trong túi áo khoác màu trắng treo ở tủ quần áo trong phòng ngủ của T.
  • - 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, đầu còn lại gắn một đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng: thu giữ trong hộc tủ quần áo của T.

Tại bản kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,3433 gam, là Methamphetamine.

Xử lý vật chứng: 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu cùng 0,2754 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 05 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, đầu còn lại gắn một đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để bảo quản chờ xử lý.

Quá trình điều tra, T khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình như trên. T khai T mua số ma tuý trên về mục đích sử dụng.

Xử lý vật chứng: Hiện các mẫu vật còn lại sau giám định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để bảo quản chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố

Nguyễn Văn T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Đồng thời đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 05 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh B.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ảnh hưởng đến gia đình, xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân vi phạm pháp pháp luật, ảnh hưởng xấu đến xã hội, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo trở về với gia đình, bị cáo không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, Thạch diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục

tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo T thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời khai nhận này của bị cáo T phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 31/12/2023, tại số nhà O, khu phố F, phường P, thành phố P, Lê Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3433 gam Methamphetamine trong phòng ngủ của T nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phường P bắt quả tang.

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 và tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo nhận thức được "Methamphetamine” là loại chất gây nghiện nằm trong danh mục nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng ...trái phép, vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người trong cộng đồng và trật tự trị an xã hội. Tuy nhận thức được điều này nhưng bị cáo vẫn bất chấp sự trừng trị của pháp luật, bất chấp hậu quả mà ma túy mang lại vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép. Hành vi của bị cáo Lê Ngọc T là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Xét thấy, với tình hình tội phạm về ma túy đang ngày một gia tăng, mà địa bàn Thành phố P là một trong những địa phương có tình hình tội phạm về ma túy diễn biến hết sức phức tạp, thu hút nhiều con nghiện ở các địa phương khác đến mua bán, tàng trữ, sử dụng... ma túy, dư luận xã hội bất bình. Do đó, để đảm bảo yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cũng như lập lại trật tự công cộng, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt có xem xét cho bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo xét thấy: Hành vi của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mức hình phạt này không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới. Ngoài ra mức hình phạt đối với bị cáo còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm chung.

[5] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T từ 12 đến 18 tháng tù. Xét lời đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét cho bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là sai trái nên xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo, để tạo cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa bản thân.

Đồng thời đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 05 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh B nên tịch thu tiêu hủy đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với số vật chứng, tài sản gồm: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 05 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh B nên tịch thu tiêu hủy đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 18/7/2024 nhưng trừ thời gian tạm giữ từ ngày từ ngày 31/12/2023 đến ngày 09/01/2024.

2/ Biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 05 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh B.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng tài sản số 24A ngày 12/4/2024).

3/Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp Phan Thiết;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an Tp Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã, phường nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

ĐỖ THỊ YẾN LINH

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

ĐỖ THỊ YẾN LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 153/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LÊ NGỌC THẠCH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger