Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/KDTM-PT

Ngày: 24/6/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín

dụng

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Linh

Bà Phạm Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thùy Dương - Thư ký Toà án

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Phan Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 24/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 109/2024/KDTM - PT ngày 10/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 294/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 15/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 347/2024/QĐPT-KDTM ngày 04/6/2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1. Địa chỉ: T, số A, T, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chủ tịch HĐQT

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình K - Cán bộ xử lý nợ; ông Lý

Quang Diệu M - Nhân viên pháp lý xử lý nợ

Bị đơn: Công ty Cổ phần S.

Địa chỉ: Số I, nghách B, ngõ A, phố Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thiện Q - chức vụ: Tổng Giám Đốc.

Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty L3

Trụ sở: Số A, đường L, phường Q, thành phố P, Hà Nam

Người trực tiếp tham gia tố tụng: Ông Vũ Hoàng D - Sinh 2000

Địa chỉ: Số C, ngõ A, L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Đỗ Văn H, sinh 1983; Bà Đỗ Thị T1, sinh 1989.

Địa chỉ: Khu C, thị trấn T, quận H, thành phố Hà Nội

Ủy quyền cho ông: Nguyễn Duy H1, sinh 1981

Địa chỉ: Số C, ngõ B, đường C, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

+ Công ty TNHH T5

Trụ sở: Số F, ngõ I, phố H, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quang Đ - Giám đốc công ty.

Địa chỉ cư trú: Số E, nhà B, tập thể B, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

+ Công ty L4

Địa chỉ: Tầng C, số A, phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội

Người đại diện: Bà Vũ Thị H2

+ Bà Lê Thị Mai H3

Địa chỉ: Tầng A+2, số A, phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội

+ Bà Trần Thị D1

Địa chỉ: Tầng D, số A, phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội

+ Anh Trần Tuấn C

KHTT: Số 101, Quan Thánh, phường Quan Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Địa chỉ liên hệ: Tòa C6, Cung cư D' Capitale, số A T, quận C, thành phố Hà Nội

+ Chị Lê Thị Lương

HKTT: Số C, ngõ H, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội

Ủy quyền cho anh Vũ Quang T2

Địa chỉ: Tầng D, số C, đường T, phường K, quận T, thành phố Hà Nội

(Nguyên đơn, bị đơn, người đại diện của bà L có mặt; Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngân hàng TMCP Đ1 trình bày:

Ngày 05/7/2022, Ngân hàng TMCP Đ1 (Gọi tắt là Ngân hàng) ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3506566/HĐTD với Công ty Cổ phần S (Gọi tắt Công ty S). Nội dung hợp đồng thể hiện việc Ngân hàng cấp cho Công ty S1 hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền tối đa là 45.000.000.000đ gồm cả Việt Nam đồng và ngoại tệ quy đổi. Trong đó, hạn mức phục vụ thanh toán cho các đối tác nội địa tối đa là 30.000.000.000đ. Mục đích để bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh, mở L/C; Thời hạn cấp hạn mức: Kể từ ngày ký hợp đồng đến hết ngày 30/6/2023.

Tài sản bảo đảm cho khoản nợ của Hợp đồng tín dụng nêu trên gồm:

+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại địa chỉ: A phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội thuộc sở hữu của ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1.

+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại địa chỉ: Số E ngõ D phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội thuộc sở hữu của ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1 do nhận chuyển nhượng.

Thực hiện Hợp đồng nêu trên, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty S1 theo 03 theo Hợp đồng tín dụng cụ thể với tổng số tiền là 51.328.255.560đ.

Công ty đã trả được một phần nợ gốc và lãi. Tính đến ngày 08/05/2023 Công ty S1 còn nợ tổng số tiền 40.334.018.02đ (Trong đó nợ gốc là 44.728.255.560 đ; Nợ lãi là 1.334.462.100đ; Lãi quá hạn là 491.300.959đ).

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Cổ phần SarahLe thanh toán số tiền gốc 46.554.018.620đ và số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng đã ký. Trường hợp Công ty không trả nợ thì Ngân hàng được xử lý tài sản bảo đảm là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất của ông Đô Văn H5, bà Đỗ Thị T3 để thu hồi nợ.

Bị đơn Công ty Cổ phần S: Thừa nhận việc ký kết hợp đồng tín dụng hạn mức và hợp đồng tín dụng cụ thể đúng như Ngân hàng trình bày. Công ty cũng xác nhận đã được giải ngân cho vay và hiện còn nợ số tiền nợ gốc, lãi như Ngân hàng yêu cầu.

Hiện nay công ty đang khó khăn nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để Công ty thu xếp tài chính để trả nợ và kêt hợp với chủ tài sản thế chấp tìm người mua lại tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đỗ Thị T1 và ông Đỗ Văn H do người đại diện ủy quyền trình bày:

Ông H và bà T1 có ký Hợp đồng thế chấp dùng 02 tài sản thuộc sở hữu của ông bà để bảo đảm cho khoản vay của Công ty S tại Ngân hàng gồm:

+ Tài sản nhà đất tại số A phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 774585.

+ Tài sản là nhà đất tại số E ngõ D, phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 786090.

Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, bà T1, ông H đồng ý để Ngân hàng được xử lý 02 tài sản đã thế chấp trong trường hợp Công ty S không trả được nợ.

Bà Lê Thị L1 do người đại diện ủy quyền trình bày:

Ngày 05/7/2022, bà Lê Thị L1, với tư cách là người đại diện pháp luật của Công ty S (Công ty S) đã ký Hợp đồng tín dụng hạn mức với Ngân hàng. Ngân hàng đã đồng ý cấp hạn mức tín dụng thường xuyên cho Công ty S số tiền tối đa 45.000.000.000đ. Thời hạn cấp tín dụng là từ ngày 05/7/2022 đến hết ngày 30/6/2023.

Ngày 07/7/2022, ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty S. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại số A phố T, phường Tsố E ngõ D phố T, phường H, quận Đ, Hà Nội. Mặc dù trên giấy tờ, ông H, bà T1 là chủ sở hữu tài sản nhưng trên thực tế, bà L1 và ông Trần Tuấn C mới là chủ sở hữu thực sự của tài sản.

Cụ thể: ngày 02/6/2022, ông C, bà Lê Thu H6 và ông Nguyễn Huy H7 thỏa thuận bằng văn bản cùng góp tiền mua chung tài sản trên; cùng ngày các cá nhân

trên ký văn bản thỏa thuận để cho ông H, bà T1 đứng tên hộ trên giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản trên. Ngày 13/6/2022, Văn phòng Đ2 thực hiện đăng ký biến động đất đai thay đổi tên chủ sở hữu tài sản từ ông Đỗ Hoàng T4 sang ông H, bà T1.

Sau đó, ngày 14/6/2022, bà Lê Thu H6 bán lại phần góp của mình cho ông Bùi Đức H8. Như vậy, chủ sở hữu thực sự của tài sản trên lúc này gồm ông Trần Tuấn C, ông Bùi Đức H8 và ông Nguyễn Huy H7.

Đến tháng 7/2022, qua mối quan hệ quen biết, bà L1 đề nghị các chủ sở hữu tài sản trên dùng tài sản để thế chấp cho bà L1 vay vốn tại B để hỗ trợ hoạt động của Công ty S; đồng thời, bà L1 sẽ mua lại phần góp của ông H7, ông H8.

Đến ngày 08/7/2022, bà L1 nhận chuyển nhượng phần góp vốn mua chung bất động sản từ ông Nguyễn Huy H7 và ông Bùi Đức H8, đồng thời, bà L1, ông C ký Văn bản thỏa thuận về việc nhờ ông H, bà T1 đứng tên.

Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, Công ty S đã được giải ngân số tiền tổng cộng là 44.728.255.560 đồng. Trong thời gian bà L1 là đại diện pháp luật của Công ty S, khoản tiền vay này đã được sử dụng đúng mục đích. Đến nay, bà L1 không còn là người đại diện theo pháp luật của Công ty S, không nắm được tình hình hoạt động của công ty, do đó không có trách nhiệm đưa ra phương án trả nợ. Công ty S phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng và các tài liệu khác có liên quan.

Ông Trần Tuấn C trình bày:

Ngày 2/6/2022 tại Ngân hàng TMCP N1 phố T, quận B, Hà Nội ông đã chuyển khoản vào tài khoản cá nhân bà Lê Thị L1 - CCCD [...] số tiền 9.000.000.000₫ để cho bà Lê Thị L1 (Tổng Giám đốc và đại diện pháp luật của Công ty S) vay với mục đích sử dụng làm vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của Công ty S, thời hạn vay là 10 ngày.

Để làm đảm bảo cho khoản vay tiền, bà L1 có đề nghị để ông C đứng tên đồng sở hữu chung cùng với các ông Nguyễn Huy H7 và bà Lê Thu H6 tài sản là toàn bộ căn nhà 06 tầng xây dựng trên 02 thửa đất thông qua việc cùng ngày 21/6/2022, đã ký Hợp đồng góp vốn mua chung tài sản gồm:

1. Thửa đất số: 277, tờ bản đồ số: 6G-1-41 tại địa chỉ: A phố T - phường T - quận Đ - thành phố Hà Nội có diện tích đất: 75.5 m2 đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD774585 do Ủy ban nhân dân quận Đ ngày 02/03/2011 mang tên ông Đỗ Hoàng T4 đã sang tên cho

ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1 ngày 13/06/2022.

2. Thửa đất số: 89, tờ bản đồ số: 6G-1-35 tại địa chỉ: Số E ngõ D phố T - phường T - quận Đ - thành phố Hà Nội có diện tích đất: 57.2m2 đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD786090 do Ủy ban nhân dân quận Đ ngày 02/03/2011 mang tên ông Đỗ Hoàng T4 đã sang tên cho ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1 ngày 13/06/2022.

Trong đó phần vốn góp mua chung "tài sản nhà đất T" của ông C là 5.000.000.000₫.

Sau đó ngày 14/6/2022 các bên góp vốn mua chung tài sản nhà ở T (ông Nguyễn Huy H7 và bà Lê Thu H6) đã chuyển nhượng/bán lại phần vốn góp mua chung tài sản của mình cho bà Lê Thị L1. Tiếp theo, đến ngày 15/6/2022 bà L1 do đã quá hạn hoàn trả số tiền vay ông C, bà L1 có kí cam kết sẽ hoàn trả đủ số tiền 9.000.000.000đ cho ông C (chia ra làm 3 đợt và sẽ hoàn tất trước 11/7/2022), tuy nhiên sau đó không thực hiện như cam kết.

Đến ngày 8/7/2022 do toàn bộ "tài sản nhà đất T" đã bị bà L1 thế chấp trong Ngân hàng nên bà L1 đề nghị ông C kí Văn bản thỏa thuận về việc Nhờ ông/bà Đỗ Văn HĐỗ Thị T1 đứng tên hộ tài sản nhà ở T. Văn bản thỏa thuận này được lập ra nhằm mục đích cho phép người đồng sở hữu tài sản này với ông C, là bà Lê Thị L1, cũng là Tổng Giám đốc Công ty S sử dụng làm tài sản đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng B1 - Chi nhánh H9. Văn bản nêu rõ điều khoản như sau:

+ Trong trường hợp bà L1 cùng công ty của bà L1 vay vốn thành công và số tiền giải ngân ra đủ, đồng thời bà L1 đã hoàn tất thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho ông Trần Tuấn C xong thì Bà L1 là chủ mới của tài sản nêu trên. Bên B (ông T1, bà H) có trách nhiệm ký kết hợp đồng chuyển nhượng/mua bán tài sản trên cho bà L1 mà không cần thông qua Bên A(ông C, bà L1) nữa. Bên A và Bên B có trách nhiệm sẽ hủy Hợp đồng ủy quyền nêu trên sau khi ngân hàng giải ngân đủ số tiền: 45.000.000.000đ và có biên bản xác nhận bà L1 đã hoàn tất mọi nghĩa vụ tài chính liên quan đến tài sản này với ông Trần Tuần C1

+ Nếu đến ngày 15/7/2022 mà bà L1 vay vốn ngân hàng không thành công hoặc bà L1 đã vay được vốn Ngân hàng nhưng không hoàn tất việc thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài chính cho ông Trần Tuấn C thì Bà L1 sẽ phải chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền đủ để thực hiện việc tất toán hết khoản vay đối với tài sản nêu trên với Ngân hàng và trả lại tài sản về cho bên A, đảm bảo không vướng mắc bất

kỳ lí do gì. Trong trường hợp này, Bên B sẽ có trách nhiệm phối hợp để tất toán khoản vay để trả lại tài sản cho Bên A.

Ngoài ra trong văn bản thỏa thuận này cũng đã làm rõ: Bên B ủy quyền lại cho ông Trần Tuấn C được toàn quyền thay mặt Bên B để tất toán khoản vay, nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tài sản nêu trên, sau khi tất toán khoản vay ông C được toàn quyền định đoạt tài sản.

Cho đến nay bà L1 cũng như Công ty S đã không thực hiện việc hoàn trả đầy đủ số tiền đã vay ông C theo các Cam kết.

Ngân hàng khởi kiện Công ty S yêu cầu trả khoản nợ, trong trường hợp không trả được nợ thì sẽ xử lý tài sản bảo đảm là "tài sản nhà đất T" để thu hồi khoản nợ, ông C có quan điểm: Đối với khoản nợ của Công ty nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với tài sản thế chấp, thì tài sản không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1 mà thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông C và bà Lê Thị L1 nên ông C không đồng ý cho phát mại mà yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án:

  1. Xác định một phần tài sản là Thửa đất số: 277, tờ bản đồ số: 6G-1-41 tại địa chỉ: A phố T - phường T - quận Đ - thành phố Hà Nội có diện tích đất: 75.5 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD774585 mang tên ông Đỗ Hoàng T4 đã sang tên cho ông Đỗ Văn H và bả Đỗ Thị T1 ngày 13/06/2022 và Thửa đất số: 89, tờ bản đồ số: 6G-1-35 tại địa chỉ: Số E ngõ D phố T - phường T - quận Đ - thành phố Hà Nội có diện tích đất: 57.2 m2 mang tên ông Đỗ Hoàng T4 đã sang tên cho ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1 ngày 13/06/2022 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông C theo Hợp đồng góp vốn mua chung ngày 02/6/2022 với khoản tiền tại thời điểm góp vốn là 5.000.000.000 đồng.
  2. Trong trường hợp Tòa án xử lý tài sản thế chấp là nhà đất nêu trên để thu hồi khoản nợ thì phải hoàn trả cho ông C phần tài sản góp vốn tương ứng với giá trị nhà đất tại thời điểm xử lý, trước khi trả nợ cho Ngân hàng.
  3. Trong các trường hợp khác, nếu có phát sinh liên quan đến việc xử lý phát mại tài sản nêu trên, dẫn tới việc ông C chưa nhận lại được số tiền 5 tỷ đồng đã cho vay để mua tài sản đưa vào thế chấp thì Công ty S phải chịu trách nhiệm hoàn tất nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho ông C số tiền 5 tỷ đồng. Ngoài ra, nếu Công ty cổ phần S giải thể, phá sản hoặc không có khả năng trả nợ, thì các cổ đông công ty, và bà Lê Thị L1 - Người đại diện Công ty S tại thời điểm vay ông C món tiền nêu trên, sẽ phải

chịu trách nhiệm hoàn tất nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho ông C số tiền 5 tỷ.

Ông C không nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu độc lập, không xuất trình được các tài liệu chứng minh mình thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền tạm ứng án phí nên Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu độc lập của ông C.

Công ty TNHH L4 trình bày: Công ty TNHH L4 có ký Hợp đồng ngày 05/9/2022 thuê một phần tầng 3 căn nhà số A phố T với bà Đỗ Thị T1, ông Đỗ Văn H. Trong quá trình thuê nhà từ 2019 đến nay công ty đã sơn lại toàn bộ tường, lắp trần, thi công lại toàn bộ hệ thống điện đối với phần diện tích thuê tại tầng 3, dựng tường thạch cao để chia phòng. Ngoài ra những người thuê nhà đã thống nhất thay thế toàn bộ đồng hồ đo số điện của các tầng thành đồng hồ điện tử do vậy, chi phí thay thế đồng hồ đề nghị phải hoàn trả lại cho những người thuê nhà.

Công ty TNHH L4 đã đầu tư trang thiết bị, cải tạo, sửa chữa diện tích thuê. Việc xử lý tài sản để thu hồi nợ sẽ làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh và gây tổn thất cho Công ty. Vì vậy, trong trường hợp căn nhà tại A T bị xử lý thay đổi chủ sử dụng, chủ sở hữu và không cho thuê thì Công ty TNHH L4 đề nghị Tòa án giải quyết thỏa đáng vấn đề về chi phí đầu tư, sửa chữa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác: Công ty TNHH T5, bà Lê Thị Mai H3, bà Trần Thị D1 (là những tổ chức, cá nhân thuê nhà tại A T) đều đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án tham gia tố tụng tuy nhiên vẫn vắng mặt, không có ý kiến gửi Tòa án nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Ngày 15/12/2023, Tòa án nhận được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh và Hợp đồng thuê 1 phần căn nhà do Công ty TNHH T5 gửi cho Tòa án. Tại Hợp đồng thuê nhà thể hiện: Công ty TNHH T5 ký Hợp đồng thuê nhà với ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1, Công ty TNHH T5 thuê toàn bộ tầng 5 của căn nhà; Thời gian thuê từ 01/12/2022 đến 31/12/2024.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có nhiều thông báo gửi cho các tổ chức, cá nhân thuê nhà yêu cầu giao nộp bổ sung tài liệu chứng cứ là Hợp đồng thuê nhà và tài liệu khác liên quan đến việc thuê nhà. Tuy nhiên, chỉ có Công ty TNHH T5Công ty TNHH L4 là cung cấp hợp đồng thuê nhà.

Bản án kinh doanh sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 19/01/2024 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử đã quyết định:

“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 (B) đối với Công ty Cổ phần S.

2. Buộc Công ty cổ phần S phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tiền gốc và lãi tính đến ngày 19/01/2024 như sau:

  • + Nợ gốc: 44.728.255.560 đồng
  • - Lãi trong hạn: 3.836.124.344 đồng.
  • - Lãi quá hạn: 2.005.452.308 đồng
  • Tổng cả gốc và lãi: 50.569.832.212 đồng

Công ty Cổ phần Sarah Le phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số nợ gốc còn lại chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 20/01/2024 cho đến khi Công ty Cổ phần S trả hết nợ cho Ngân hàng.

3. Trường hợp Công ty S không thực hiện trả nợ hoặc trả nợ không hết cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo sau đây để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật là:

+ Quyền sử dụng đât, quyền sở hữu nhà ở của Bên thế chấp tại địa chỉ: A phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 774585, số vào sổ cấp GCN: CH00649/659.2011/0D-UBND do UBND quận Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/3/2011. Ngày 13/6/2022, Văn phòng Đ2 - Chi nhánh khu vực B - H - Đ đăng ký sang tên ông Đỗ Văn H, bà Đỗ Thị T1.

+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của Bên thế chấp tại địa chỉ: Số E ngõ D phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 786090, số vào sổ cấp GCN: CH00648/659.2011/QĐ-UBND do UBND Quận Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/3/2011. Ngày 15/0/2022, Văn phòng Đ2 - Chi nhánh khu vực B - H - Đ đăng ký sang tên ông Đỗ Văn H và bà Đỗ Thị T1.

Công ty Cổ phần S2, Ông Đỗ Văn H, bà Đỗ Thị T1, Công ty TNHH L4, Công ty TNHH T5, bà Lê Thị Mai H3, bà Trần Thị D1 và những cá nhân, tổ chức khác sử dụng tài sản thế chấp có nghĩa vụ giao lại tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số công chứng 4588, Quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/07/2022 được lập tại Văn phòng C2 cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý tài sản thế chấp”.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm Công ty Cổ phần S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và cho rằng bản án chưa phù hợp với sự thật khách quan, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của và đề nghị hủy bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ yêu cầu kháng cáo và trình bày: Bản án sơ thẩm đã xét xử và quyết định đúng quy định của pháp luật về khoản nợ gốc, nợ lãi mà Bị đơn phải thanh toán. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp cũng được Tòa án xét xử và quyết định đúng. Bị đơn kháng cáo bản án với mục đích kéo dài thời gian để tìm phương án trả nợ nên không có ý kiến nào khác để trình bày. Bị đơn đề nghị Nguyên đơn cho giãn thời gian, sau 1 năm nữa sẽ thu xếp để thu xếp tiền trả nợ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính: Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các diều 70,71,72, 73 và 74 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty S. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục kháng cáo:

Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần S làm và nộp trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.

Xét về nội dung kháng cáo:

Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3506566/HĐTD ngày 05/07/2022 giữa Ngân hàng TMCP Đ1 (Ngân hàng) và Công ty Cổ phần S (Công ty S) (Bút lục 117) được ký kết tự nguyện, đã đảm bảo về điều kiện chủ thể ký kết. Nội dung của hợp đồng đúng quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty S vay tiền theo 03 hợp đồng tín dụng gồm:

  • - Hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 08/7/2022 (bút lục 120). Số tiền giải ngân là 30.000.000.000đồng. Thời hạn vay kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay đến ngày 09/01/2023. Lãi suất vay trong hạn 7%/năm cố định trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng này.
  • - Hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 13/7/2022 (bút lục 108). Số tiền giải ngân là 14.769.750.000đồng. Thời hạn vay kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay đến ngày 13/01/2023. Lãi suất vay trong hạn 7%/năm cố định trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng này.
  • - Hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 21/12/2022 (Bút lục 105). Số tiền giải ngân là 6.558.505.560đ. Thời hạn vay kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay đến ngày 21/6/2023. Lãi suất vay trong hạn 9,6%/năm cố định trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng này.

Tổng số tiền Ngân hàng đã giải ngân là 51.328.255.560đ.

Công ty S đã trả được số tiền 6.600.000.000đ nợ gốc vào ngày 21/12/2022 của Hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 08/7/2022 nên số tiền nợ gốc Công ty S còn nợ là 44.728.255.250₫.

Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty S trả nợ gốc 44.728.255.250₫, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi nợ gốc là có căn cứ.

Về yêu cầu thanh toán tiền lãi:

Tại các hợp đồng tín dụng cụ thể thể hiện lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 7%/năm, 9,6%/năm và được cố định trong thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng cụ thể. Số tiền lãi trong hạn tính đến ngày 19/01/2024 Công ty S phải trả Ngân hàng là 3.836.124.344đ.

Ngân hàng xuất trình Thông báo điều chỉnh lãi suất ngày 30/3/2023 (Bút lục 570) nội dung điều chỉnh lãi suất các khoản vay của doanh nghiệp H10 đang quá

hạn, hết thời gian ưu đãi lãi suất kể từ thời điểm khoản vay quá hạn nên mức lãi suất được điều chỉnh đối với các khoản vay theo 02 hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 08/7/2022 và 13/7/2022 là 8%/năm. Việc điều chỉnh mức lãi suất của Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 5 Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng đính kèm Hợp đồng tín dụng hạn mức và đã được ngân hàng thông báo cho bên vay. Đối chiếu bảng kê tính lãi do Ngân hàng xuất trình thì mức lãi suất quá hạn đã được Ngân hàng điều chỉnh phù hợp với Thông báo của Ngân hàng. Tính đến ngày 19/01/2024, nợ lãi quá hạn của Công ty S theo Hợp đồng hạn mức tín dụng và các hợp đồng tín dụng cụ thể là 2.005.452.308đ. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi tiền nợ lãi trong và quá hạn của Ngân hàng là đúng quy định.

Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên của Công ty S theo Hợp đồng hạn mức tín dụng nêu trên là:

  • - Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại số A phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 774585 do UBND quận Đ ngày 02/3/2011; đăng ký sang tên cho ông Đỗ Văn H, bà Đỗ Thị T1 ngày 13/6/2022.
  • - Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại số E ngõ D phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 786090 do UBND quận Đ ngày 02/3/2011; đăng ký sang tên cho ông Đỗ Văn H, bà Đỗ Thị T1 ngày 13/6/2022.

Các tài sản trên được bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản công chứng số 4588, Quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/7/2022 tại Văn phòng C2.

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Tuấn C, bà Lê Thị L1 có khai về việc các tài sản bảo đảm trên là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông C, bà L1 theo Hợp đồng góp vốn mua chung tài sản (bút lục 338), các văn bản thỏa thuận nhờ ông H, bà T1 đứng hộ tên các tài sản (Bút lục 404-409).

Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo các Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (Bút lục 507, 500) giữa bên bán ông Đỗ Hoàng T4 + bà Đặng Thị Phương L2 và bên mua ông Đỗ Văn H + bà Đỗ Thị T1 thì ông H, bà T1 là người đã trực tiếp tham gia

ký các hợp đồng nhận chuyển nhượng đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số A phố T và số E ngõ D phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Sau khi ký các hợp đồng chuyển nhượng thì ông H, bà T1 đã được đăng ký sang tên Giấy chứng nhận QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng Đ2 - Chi nhánh khu vực B - H - Đ. Ngân hàng nhận thế chấp trên cơ sở giấy chứng nhận đứng tên ông H, bà T1. Tại thời điểm nhận thế chấp tài sản, Ngân hàng đã thực hiện đầy đủ thủ tục quy trình xem xét, thẩm định tài sản được thể hiện tại Báo cáo định giá giá trị tài sản ngày 04/7/2022 (Bút lục 461).

Hợp đồng thế chấp được ký kết tự nguyện, chủ thể tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của người thế chấp. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản và chứng thực đúng quy định. Nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm nên Hợp đồng có hiệu lực thi hành. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại đối với toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số A phố T và số E ngõ D phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội để thu hồi khoản nợ của Công ty S theo thỏa thuận đã được các bên thống nhất trong hợp đồng tín dụng.

Ông Trần Tuấn C không nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu độc lập nên Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý, giải quyết các yêu cầu của ông tại Đơn yêu cầu độc lập là đúng quy định.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự thì trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và đã thế chấp nhà đất cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật thì giao dịch thế chấp không vô hiệu nên các yêu cầu của ông Trần Tuấn C sẽ được giải quyết bằng vụ án khác liên quan đến thỏa thuận góp vốn, nhờ đứng tên hộ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà khi có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh và nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo của Công ty S không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Từ những nhận định trên.

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

QUYẾT ĐỊNH

  1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
  2. Về án phí phúc thẩm:

    Công ty Cổ phần S phải chịu 2.000.000đồng án phí phúc thẩm được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai số 6252 ngày 31/01/2024 tại Chi cục THADS quận H.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - TAND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Lưu HS/VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/KDTM-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 153/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger