TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 153/2023/HS-ST Ngày: 23 - 8 - 2023. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Văn Tiên.
- 2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 774/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Đức T; giới tính: N; sinh năm: 1998; sinh tại: Tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn G, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Bùi Đức M, con bà Nguyễn Thị B; có vợ Trần Thị H, có 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2022 đến nay. (có mặt)
- Bị hại:
- 1/ Công ty CP D; địa chỉ trụ sở chính: Tầng E, M, số C L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Bà Trương Thị Anh L; địa chỉ: A H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – Cửa hàng trưởng. (có mặt)
- 2/ Anh Nguyễn Phát Đ, sinh năm 2002; địa chỉ: Số B, đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa liên quan đến vụ án:
- 1/ Ông Bùi An Đ1, sinh năm: 1965; địa chỉ: Số C, Tổ B, Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- 2/ Ông Mai Công K; sinh năm: 1970; địa chỉ: 9 Tổ D, Khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/9/2022, Bùi Đức T chuẩn bị 01 cây súng tự chế bắn đạn bằng kim loại, bên trong có 01 viên đạn đã được nạp sẵn (T mua trên mạng xã hội Facebook vào năm 2021 với mục đích để bắn động vật ở quê) và 01 con dao màu đen bỏ vào 01 cái túi rồi điều khiển xe mô tô hiệu Dream, biển số 60K3-4549 từ phòng trọ tại Tổ D, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến cửa hàng W tại số A đường H, phường T, Quận A. Khi đến nơi, T quan sát thấy bên trong cửa hàng chỉ có 01 nhân viên nam đứng bán hàng nên T dựng xe 60K3-4549 tại đường hẻm bên cạnh cửa hàng, xe cắm sẵn chìa khóa. Sau đó, T lấy con dao giắt vào lưng quần bên trái còn hai tay cầm súng tự chế đi vào bên trong cửa hàng. T đi tới vị trí thu ngân nơi anh Nguyễn Phát Đ đang đứng, hướng súng vào người Đ và hô to “Cướp đây, đưa tiền đây”. T quay ra phía sau phát hiện có 03 nhân viên nên T hướng súng qua và yêu cầu ngồi xuống. Sau đó, T quay người về phía Đạt bắn 01 phát súng vào tủ đựng thuốc phía sau Đ nhằm mục đích đe dọa. Đ hoảng sợ nên mở ngăn đựng tiền và lấy tiền bán hàng đưa cho T. T cầm tiền bỏ vào túi áo khoác bên trái rồi nhanh chóng tẩu thoát ra ngoài, điều khiển xe về bến xe N, phường T, Quận A. Tại đây, T lấy tiền từ túi áo khoác nhét vào trong túi quần bên trái rồi treo áo khoác lên phần đầu xe mô tô, sau đó vào bên trong bến xe lấy hàng. Sau khi lấy hàng xong, T điều khiển xe đến quán cà phê T, thuộc phường T, Quận A câu cá đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày rồi về lại phòng trọ. Trên đường về lại phòng trọ tại tỉnh Đồng Nai, áo khoác của T đã bị rơi mất. Khi về tới phòng trọ, T đếm số tiền chiếm đoạt được là 2.500.000 đồng, T dùng mua sữa, tả, ăn uống, còn lại số tiền 553.000 đồng.
Đến 00 giờ 45 phút ngày 12/9/2022, qua công tác điều tra truy xét, lực lượng Công an phát hiện mời T về làm việc.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại phòng trọ số E, Tổ D, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, lực lượng Công an thu giữ phương tiện, công cụ T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và các đồ vật có liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Đức T đã thừa nhận toàn bộ hành vi cướp tài sản như trên. T trình bày trên đường tẩu thoát có làm rơi số tiền cướp được (không rõ cụ thể số tiền và địa điểm rơi) nên khi về phòng trọ T đếm lại còn 2.500.000 đồng.
Theo thống kê của của hàng Winmart, số tiền bị T chiếm đoạt là 3.293.000 đồng.
Kết luận giám định số 5900/KL-KTHS ngày 27/10/2022 của Phòng K1, Công an Thành phố H.
01 thanh kim loại hình trụ có hình dạng giống thân súng kèm theo các bộ phận nòng, cò, buồng đạn, dài khoảng 58cm (ký hiệu số 01) không phải là vũ khí quân dụng, là các bộ phận của súng, còn sử dụng được, bắn được đạn nổ, sử dụng loại đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,6mm, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao.
01 vật kim loại không rõ hình dạng, có kích thước khoảng 8 x 10cm (ký hiệu số 02) là đầu đạn bị biến dạng, không đủ cơ sở kết luận có phải do đối tượng gửi giám định ký hiệu số 1 bắn ra hay không.
02 ống kim loại hình trụ tròn, cùng đường kính khoảng 3,3cm, dài khoảng 15cm (ký hiệu số 3) là nòng giảm thanh bằng kim loại, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, sử dụng được cho đối tượng gửi giám định ký hiệu số 1.
09 viên đạn gửi giám định (ký hiệu số 4) là đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,6mm chưa qua sử dụng, đạn thể thao thường dùng cho các loại súng như: súng trường thể thao TOZ8; súng ngắn ổ xoay Smith&Wesson của Mỹ; các loại súng tự chế có cỡ nòng và buồng đạn phù hợp với kích cỡ của loại đạn này ...và sử dụng được cho đối tượng gửi giám định ký hiệu số 1.
Vỏ đạn gửi giám định (ký hiệu số 5) là vỏ đạn của loại đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,6mm, đã qua sử dụng.
Kết luận định giá số 29/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: Không đủ cơ sở định giá qua tài liệu đối với tài sản là 01 cái thùng ván, màu xám kích thước 33cmx50cm, có 01 lỗ thủng bên hông đường kính khoảng 01cm và 01 lỗ thủng phía sau.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Dream, biển số 60K3-4549, số khung: NJ100-200093542, số máy: 50FMG-310093542. Qua xác minh xe do anh Bùi An Đ1 đứng tên chủ sở hữu. Năm 2009, Anh Đ1 bán xe lại cho Mai Công K (chưa làm thủ tục sang tên). Anh K sử dụng đến năm 2021 thì bán lại cho Bùi Đức T.
- 01 cái thùng bằng ván ép màu xám kích thước 33cmx50cm, bên phải có 01 lỗ tròn đường kính khoảng 01cm và phía sau có 01 lỗ tròn đường kính 02cm – Cơ quan điều tra đã trả lại cho cửa hàng W.
- 01 mũ bảo biểm màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean xanh, ống dài; 01 đôi dép màu vàng (T mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội).
- 01 thùng xốp màu trắng, 01 dây buộc màu xanh; 01 túi đựng đồ màu đen, cam có dòng chữ “FPT-Telecom”.
- 01 thanh kim loại hình trụ dài 58cm, có bộ phận ổ đạn, cò (súng tự chế);
- 09 viên đạn bằng kim loại.
- 01 đầu đạn bị biến dạng (thu tại hiện trường).
- 01 vỏ đạn còn nằm trong nòng súng.
- 01 thanh kim loại hình trụ dài 15cm; 01 ống ngắm dài 32,5cm.
- 01 con dao bằng kim loại dài 25cm, màu đen.
- 01 USB có chưa đoạn video ghi nhận vụ việc.
- Tiền Ngân hàng N1: 553.000 đồng.
Dân sự: Đại diện cửa hàng W yêu cầu Bùi Đức T hoàn trả lại số tiền chiếm đoạt 3.293.000 đồng và 130.000 đồng để sửa chữa lại tủ đựng thuốc đã bị T bắn thủng. Gia đình T đã bồi thường số tiền 3.443.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 24/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Bùi Đức T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao và hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của Bùi Đức T, Công an Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tổng số tiền 19.000.000 đồng.
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù.
Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án, đề nghị:
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Dream, biển số 60K3-4549 và Tiền Ngân hàng N1: 553.000 đồng.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 mũ bảo biểm màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean xanh, ống dài; 01 đôi dép màu vàng (T mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội).
01 thùng xốp màu trắng, 01 dây buộc màu xanh; 01 túi đựng đồ màu đen, cam có dòng chữ “FPT-Telecom”.
01 thanh kim loại hình trụ dài 58cm, có bộ phận ổ đạn, cò (súng tự chế);
09 viên đạn bằng kim loại.
01 đầu đạn bị biến dạng (thu tại hiện trường).
01 vỏ đạn còn nằm trong nòng súng.
01 thanh kim loại hình trụ dài 15cm; 01 ống ngắm dài 32,5cm.
01 con dao bằng kim loại dài 25cm, màu đen.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, vào ngày 11/9/2022, tại cửa hàng W, địa chỉ số A đường H, phường T, Quận A. Bùi Đức T đã có hành vi sử dụng 01 khẩu súng tự chế, là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao để đe dọa, uy hiếp tinh thần của anh Nguyễn Phát Đ, là nhân viên bán hàng của cửa hàng W, buộc anh Đ phải đưa tiền cho T. Tổng số tiền T chiếm đoạt được là 3.293.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định Bùi Đức T đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã động viên gia đình bồi thường cho bị hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập giải quyết.
[5] Về vật chứng vụ án:
[5.1] Các vật chứng Cơ quan Công an đã xử lý, lưu giữ vào hồ sơ vụ án thì không đề cập giải quyết.
[5.2] 01 xe mô tô hiệu Dream, biển số 60K3-4549, số khung: NJ100-200093542, số máy: 50FMG-310093542 là phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.3] Đối với:
- 01 mũ bảo biểm màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean xanh, ống dài; 01 đôi dép màu vàng (T mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội).
- 01 thùng xốp màu trắng, 01 dây buộc màu xanh; 01 túi đựng đồ màu đen, cam có dòng chữ “FPT-Telecom”.
- 01 thanh kim loại hình trụ dài 58cm, có bộ phận ổ đạn, cò (súng tự chế).
- 09 viên đạn bằng kim loại.
- 01 đầu đạn bị biến dạng (thu tại hiện trường).
- 01 vỏ đạn còn nằm trong nòng súng.
- 01 thanh kim loại hình trụ dài 15cm; 01 ống ngắm dài 32,5cm.
- 01 con dao bằng kim loại dài 25cm, màu đen.
Là vật không còn giá trị sử dụng, công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy theo các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.4] Tiền Ngân hàng N1: 553.000 đồng là tiền phạm tội mà có, bị cáo đã động viên gia đình bồi thường xong số tiền phạm tội mà có nên trả lại cho bị cáo số tiền này theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Đức T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2022.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Dream, biển số 60K3 - 4549, số khung: NJ100-200093542, số máy: 50FMG-310093542.
Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 mũ bảo biểm màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean xanh, ống dài; 01 đôi dép màu vàng.
- 01 thùng xốp màu trắng, 01 dây buộc màu xanh; 01 túi đựng đồ màu đen, cam có dòng chữ “FPT-Telecom”.
- 01 thanh kim loại hình trụ dài 58cm, có bộ phận ổ đạn, cò (súng tự chế).
- 09 viên đạn bằng kim loại.
- 01 đầu đạn bị biến dạng (thu tại hiện trường).
- 01 vỏ đạn còn nằm trong nòng súng.
- 01 thanh kim loại hình trụ dài 15cm; 01 ống ngắm dài 32,5cm.
- 01 con dao bằng kim loại dài 25cm, màu đen.
Trả lại cho bị cáo Bùi Đức T: Tiền Ngân hàng N1 553.000 đồng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 68/QĐ-VKS ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |
Bản án số 153/2023/HS-ST ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản
- Số bản án: 153/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức T phạm tội "Cướp tài sản"
