Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc

Bản án số: 153/2024/HS-ST

Ngày: 23 – 07 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Hội thẩm nhân dân:

Bà Châu Thị Lệ

Ông Võ Thành Viên

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 07 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 162/2024/HSST ngày 03/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HS ngày 15/07/2024 đối với bị cáo:

Phạm Thanh B; Giới tính: Nam; Sinh ngày 17/07/1994; Tại tỉnh Thái Bình; Hộ khẩu thường trú: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện tại: 30/34/19 N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị B1; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị Cẩm H và có 01 người con, sinh năm 2022. Tiền sự: Không, Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/03/2024 (có mặt).

Bị hại: Chị Trương Thị Quỳnh N, sinh năm 2000; Địa chỉ: 2 đường số H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1961; Địa chỉ: C Đ, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, Phạm Thanh B đến khách sạn R, địa chỉ số C đường P, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để thuê phòng số 505 của khách sạn để nghỉ ngơi. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, Phạm Thanh B đi ngang qua phòng 504 thấy cửa phòng không khoá, không có ai ở trong phòng nên Phạm Thanh B mở cửa phòng và đi vô trong phòng nhìn thấy 02 chiếc điện thoại hiệu SamSung A10 và hiệu Redmi Note 12 đang cắm sạc trên đầu giường là tài sản của chị Trương Thị Quỳnh N là người thuê phòng số 504 của khách sạn ROSE nên đã lén lút lấy trộm 02 điện thoại di động nêu trên. Sau đó, Phạm Thanh B đem cầm cố chiếc điện thoại hiệu Redmi Note 12 tại tiệm C, địa chỉ số A đường P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh lấy số tiền 700.000 đồng, còn chiếc điện thoại hiệu SamSung A10 thì Phạm Thanh B đem về cất giấu ở nhà. Đến ngày 04/3/2024, Phạm Thanh B sợ sự việc trộm cắp tài sản bị phát hiện nên nhờ cha ruột là ông Phạm Văn Đ chở Phạm Thanh B đi chuộc chiếc điện thoại hiệu Redmi Note 12. Đến ngày 05/3/2024, Phạm Thanh B đến Công an P, quận G trình diện và giao nộp 02 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung A10 và hiệu Redmi Note 12 đã lấy trộm ngày 01/3/2024 tại khách sạn R. Đối với người bị hại Trương Thị Quỳnh N, sau khi mất tài sản đã trình báo Công an P, quận G. (Bút lục: 49-58)

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 38/KL – HĐĐGTS ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân quận G kết luận: 02 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 và điện thoại di động hiệu S A10 đã qua sử dụng trị giá là 2.933.333 đồng. (Bút lục: 88-89)

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh đen, Model: 23021RAAEG số Imei: 865 480 069 983 201 và Imei: 865 480 069 983 219 (là vật chứng do Phạm Thanh B trộm cắp và giao nộp);
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh số Imei1: 357 186 104 633 298/01 và Imei2: 357 187 104 633 296/01 (là vật chứng do Phạm Thanh B trộm cắp và giao nộp);
  • 01 (một) bộ trang phục gồm: 01 áo thun màu xám, 01 quần đùi màu đen (quần áo Phạm Thanh B mặc khi thực hiện hành vi phạm tội) đã trả lại cho Phạm Thanh B;
  • 01 (một) bản chính CCCD có thông tin của Phạm Thanh B, sinh ngày: 17/07/1994, thẻ CCCD số: [...]; nơi thường trú: N, T, Thái Bình (giấy tờ tùy thân của Phạm Thanh B để lại tại nơi thực hiện hành vi phạm tội) đã trả lại cho Phạm Thanh B;
  • 01 (một) USB màu đen hiệu SanDisk chứa dữ liệu hình ảnh Phạm Thanh B khi đi vào để thực hiện hành vi trộm cắp.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản là 02 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 và điện thoại di động hiệu Samsung A10 không có yêu cầu gì khác. (Bút lục: 163-166).

Tại bản cáo trạng số 173/CT-VKS ngày 03/07/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Phạm Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử :

  • Xử phạt bị cáo Phạm Thanh B từ 04 tháng 16 ngày đến 06 tháng tù.
  • Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi hình bị cáo trộm tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Phạm Thanh B đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Phạm Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bị hại, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, bị cáo sẵn sàng phạm tội để có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bất chấp hậu quả xảy ra. Tài sản bị cáo trộm cắp là 02 chiếc điện thoại di động qua định giá có giá trị là 2.933.333 đồng, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Do đó, cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Đối với bị cáo Phạm Thanh B phải chịu mức hình phạt tương xứng với tội lỗi của bị cáo nhưng xét thấy bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú, tài sản bị cáo trộm cắp được thu hồi trả lại cho người bị hại. Qua đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt, nên Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian tạm giam từ ngày 07/03/2024 đến nay cũng đủ giáo dục các bị cáo, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt bằng với thời gian tạm giam cũng đủ giáo dục bị cáo B và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

[5] Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà hôm nay, bị hại bà Trương Thị Quỳnh N vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 USB ghi hình bị cáo trộm tài sản là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh B 04(bốn) tháng 16(mười sáu) ngày tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 07/03/2024.

- Áp dụng khoản 5 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa đối với bị cáo Phạm Thanh B nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi hình bị cáo trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhân:

  • -TAND TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 153/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger