|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q.LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG Bản án số: 153 /2023/HSST Ngày: 22/12/2023. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ và ông Ngô Văn Khanh.
- Thư ký Toà án: Bà Trần Ngô Khánh Loan- Cán bộ Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:150/2023/ HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ tên: Phạm Công T; Sinh ngày: 20 tháng 9 năm 2000 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, TP .; Nghề nghiệp: Sửa xe máy; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con cha là ông Phạm H (SN: 1966) và mẹ là bà Lê Thị C (SN: 1966); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận L, TP .. (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- +Nguyễn Huỳnh Bá N (Sinh năm: 1993. Trú tại: Thôn Đ, Xã H, Huyện H, TP .; (Vắng mặt tại phiên tòa).
- + Nguyễn Duy P (Sinh năm: 1995. Trú tại: Thôn Đ, Xã H, Huyện H, TP .; (Vắng mặt tại phiên tòa).
- + Nguyễn Thị Thúy D (Sinh năm: 2002. Trú tại: Thôn P, Xã D, Huyện D, Tỉnh Quảng Nam; (Vắng mặt tại phiên tòa).
- + Phan Thị Hiền L (Sinh năm: 1997. Trú tại: Thôn Y, Xã X, Huyện N, Tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt tại phiên tòa).
- +Nguyễn Thế H1, sinh năm 1991; Địa chỉ 143 L, phường H, quận L, tp Đà Nẵng; (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
- +Dương Phú M (Sinh năm 1993. Trú tại: Thôn V, Xã H, Huyện H, TP.). (Vắng mặt tại phiên tòa).
- +Nguyễn Thị Tuyết N1 (Sinh năm 1993. Trú tại: Thôn Đ, Xã H, Huyện H, TP .). (Vắng mặt tại phiên tòa).
- +Nguyễn Thái Cẩm D1 (Sinh năm 1993. Trú tại: Thôn Đ, Xã H, Huyện H, TP .). (Vắng mặt tại phiên tòa).
- +Đinh Thị K (Sinh năm 1995. Trú tại: Thôn H, Xã P, Huyện Q, Tỉnh Quảng Bình). (Vắng mặt tại phiên tòa).
- +Trần Thi Kim V (Sinh năm 1992. Trú tại: Thôn B, Xã L, Huyện Đ, Tỉnh Lâm Đồng). (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
- +Trương Thị Ánh T1, sinh năm 1991; Địa chỉ 345 K, phường H, quận L, tp Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình điều tra, từ lời khai của Phạm Công T, lời khai của những người liên quan với các vật chứng thu giữ xác định:
Vào tối ngày 07/7/2023, Phạm Công T đến quán Bar T2, TP . chơi và có sử dụng ma túy cùng với 3 người bạn quen biết ngoài xã hội (T không rõ nhân thân, lai lịch của 03 người này). Sau khi sử dụng ma túy xong, T nhìn thấy còn dư một mảnh vỡ viên ma túy và một ít ma túy loại ketamine nên gói chung vào tờ tiền 2000 đồng và bỏ trong túi quần đưa về. Đến trưa ngày 08/7/2023, sau khi đi đám cưới về, T rủ N, P, D và L đi hát karaoke tại quán New sky ở số A đường L, TP .. T và N đến quán trước rồi lên phòng 303 để hát karaoke. Sau đó, N điện thoại gọi Dương Phú M (Sinh năm 1993. Trú tại: Th. V, X. H, H. H, TP.) Nguyễn Thị Tuyết N1 (Sinh năm 1993. Trú tại: Th. Đ, X. H, H. H, TP .), N1 điện thoại gọi cho Nguyễn Thái Cẩm D1 (Sinh năm 1993. Trú tại: Th. Đ, X. H, H. H, TP.) đến phòng hát. Còn P đến sau đi cùng với Đinh Thị K (Sinh năm 1995. Trú tại: Th. H, X. P, H. Q, T. Quảng B). Trần Thi Kim V (Sinh năm 1992. Trú tại: Thôn B, X. L, H. Đ, T. Lâm Đ) là nhân viên của quán.
Tại phòng hát, T nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên lấy mảnh vỡ viên ma túy bỏ vào trong ly thủy tinh nghiền nát và đổ nước C1 vào hòa tan; Còn ketamine T bỏ vào đĩa sứ màu trắng có sẵn trong phòng cùng với một ống hút được quấn bằng tờ tiền 10.000 đồng (T nhặt được trong phòng) rồi lấy một cái thẻ ATM (T lấy trên hộp ở ngoài hành lang) đậy ketamine lại bỏ sẵn trên loa thùng. T và N sử dụng ma túy trong ly nước Coca trước, chưa sử dụng ketamine. Khi mọi người đến, T và N thông báo có ma túy trong ly C1 và có ketmine để ai có nhu cầu thì sử dụng. Tuy nhiên, chỉ có D, L, P là sử dụng ma túy trong ly Coca do T cung cấp. còn M, N1, D1, K và V không sử dụng. Đến 17h00' cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Qua kiểm tra chất ma túy trong cơ thể xác định T, N, L, D, P, M, K, V đều dương tính với chất ma túy Ketamine và MDMA. Trong đó, T, N, L, D và P tại phòng hát, còn M, K và V có sử dụng ma túy trước đó.
Tang vật thu giữ của T gồm có:
- - Nước trong ly thủy tinh nghi là chất ma túy được đổ vào trong ống nhựa bỏ vào túi niêm phong mã số NS1: 2007108.
- - Các mãnh vở của dĩa sứ màu trắng có bám dính chất bột màu trắng được bỏ trong túi niêm phong. Ký hiệu NS1: 2007235.
- - 01 thẻ ATM có bám dính chất bột màu trắng được bỏ trong túi niêm phong mã số NS3: 2014203.
- - 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành ống hút.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (đã vỡ màn hình) gắn sim 0935.476.561. Đây là điện thoại của Phạm Công T.
Theo Bản kết luận giám định số: 1434/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã kết luận:
- + Chất lỏng màu vàng được bỏ trong ống nhựa được bỏ trong túi niêm phong Ký hiệu NS1: 2007108 gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine, thể tích mẫu là 5ml; nồng độ Ketamine trong mẫu là 0,294mg/Ml; Khối lượng chất ma túy trong mẫu là 1,47 mg (0,00147 g).
- + Chất bột màu trắng ký hiệu NS1: 2007235 và NS3: 2014203 gửi giám định là ma túy loại Ketamine; lượng chất bột màu trắng bám dính trên các mẫu rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Tại Cáo trạng số: 148/CT-VKS ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Phạm Công T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND quận Liên Chiểu đề nghị HĐXX áp dụng:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2; Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Phạm Công T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
-Về xử lý vật chứng: 01 (Một) hợp (túi) niêm phong đựng mẫu hoàn trả theo bản kết luận giám định số: 1434/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, xét thấy không còn giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.
-01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành ống hút.
-01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (đã vỡ màn hình) gắn sim 0935.476.561. Đây là điện thoại của Phạm Công T là phương tiện liên quan đến việc phạm tội đề nghị HĐXX tuyên sung vào ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Công T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 17h00' phút ngày 08/7/2023, tại phòng 303 quán K2 ở số A L thuộc P. H, Q. L, TP ., Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an quận L tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang Phạm Công T đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho 04 người gồm: Nguyễn Huỳnh Bá N, Nguyễn Duy P, Nguyễn Thị Thúy D, Phan Thị Hiền L. Khối lượng ma túy K1 còn lại sau khi T tổ chức sử dụng là 1,47 mg (0,00147g). Phạm Công T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với nhiều người.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Công T đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số: 148/CT-VKS ngày 22.11.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, vai trò của bị cáo thì thấy: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn, tội phạm khác trong xã hội. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, bị cáo là người chủ động chọn địa điểm, là người cung cấp ma túy và người trực tiếp rủ P và N, L, D đến hát Karaoke để tổ chức sử dụng trái phép ma túy. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải xử phạt nghiêm cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trở thành người có ích cho gia đình, xã hội nói riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo có nhân thân tốt; Cha bị cáo là ông Phạm H (SN: 1966) là cựu chiến binh từng tham gia chiến trường Campuchia –Lào 1985 đến 1988 được nhà nước tặng Kỷ niệm chương nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-Đối với số ma túy T đưa đến để tổ chức sử dụng trái phép hiện chưa xác định được T lấy của ai nên Cơ quan CSĐT Công an quận L tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
-Đối với Phạm Công T, Nguyễn Huỳnh Bá N, Dương Phú M, Nguyễn Duy P, Nguyễn Thị Thúy D, Phan Thị Hiền L, Đinh Thị K, Trần Thị Kim V1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Công an quận L đã ra quyết định xử phạt hành chính là là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
-Đối với Nguyễn Thái Cẩm D1, Nguyễn Thị Tuyết N1 không liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và không sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an quận L không xử lý là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
- - 01 (Một) hợp (túi) niêm phong đựng mẫu hoàn trả theo bản kết luận giám định số: 1434/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, xét thấy không còn giá trị sử dụng, nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- -01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành ống hút.
- -01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (đã vỡ màn hình) gắn sim 0935.476.561. Đây là điện thoại của Phạm Công T là phương tiện liên quan đến việc phạm tội. nên HĐXX tuyên sung vào ngân sách nhà nước.
- [6] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Công T phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Công T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ 08/07/2023.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
- -Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) hợp (túi) niêm phong đựng mẫu hoàn trả theo bản kết luận giám định số: 1434/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
- -Sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành ống hút.
- +01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (đã vỡ màn hình) gắn sim 0935.476.561.
Hiện nay, các vật chứng trên đang được Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/12/2023.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Công T phải chịu 200.000 đồng.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - Viện KSND q. Liên Chiểu;
- - Viện KSND TP. Đà Nẵng;
- - Công an q. Liên Chiểu;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Chi cục THADS q . Liên Chiểu;
- - Lưu hồ sơ.
|
Hội thẩm nhân dân |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 153/2023/HSST ngày 22/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 153/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử 07 năm 6 tháng tù
