TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày: 22-8-2024. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Lâm;
2. Bà Bạc Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn Y; tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày: 29/01/1984, tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản Chá, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn T (đã chết) và con bà Lường Thị B, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Lò Thị X, sinh năm 1988 (đã ly hôn năm 2023) và có 03 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: Bị cáo có 01 tiền án tại Bản án số: 48/2020/HS-ST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 06/3/2023 chấp hành xong án phạt tù (chưa được xóa án tích), tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2014 bị Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/5/2024, tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị T1 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 14/5/2024, bị cáo Lường Văn Y một mình đi bộ từ nhà ở bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đi dọc theo đường quốc lộ thuộc bản Chá, xã Q, huyện T để tìm mua Heroine về sử dụng thì gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ. Qua trao đổi, bị cáo mua của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu xanh với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Mua được H, bị cáo đi vào bụi cây ven đường thuộc bản Chá, xã Q, huyện T dùng tay cấu gói Heroine chia thành 02 gói nhỏ và gói bằng các mảnh nilon màu xanh cất giấu vào trong túi quần đang mặc đi về nhà. Đến 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi bị cáo Lường Văn Y đang đi bộ trên đường về nhà thuộc bản C, xã Q thì bị Tổ công tác Công an huyện T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bị cáo đang mặc 02 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh. Vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,1 gam Heroine, gửi toàn bộ giám định chất ma túy, vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,05 gam Heroine, 02 mảnh nilon màu xanh.
Tại bản Kết luận giám định số: 825/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của phòng K công an tỉnh Đ kết luận: “Vật chứng thu giữ của Lường Văn Y có khối lượng 0,1 gam là chất ma tuý: Loại Heroin (Heroine)”.
Tại bản Cáo trạng số: 117/CT-VKSTG ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố: Bị cáo Lường Văn Y về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lường Văn Y từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù và không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 02 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lường Văn Y; 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh Đ, chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,04 gam Heroine và M2: 0,01 gam Heroine. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, đều sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, không phạt bổ sung bằng tiền và miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo: Hồi 19 giờ 15 phút ngày 14/5/2024, tại bản Chá, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, Công an huyện T bắt người phạm tội quả tang thu giữ của bị cáo Lường Văn Y 02 gói Heroine có khối lượng 0,1 gam mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng chất ma túy bị thu giữ thì bị cáo Lường Văn Y đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
[2] Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện T nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Hành vi bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 31/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 06/3/2023 chấp hành xong án phạt tù, bị cáo chưa được xóa án tích, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Năm 2014 bị Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là làm nông nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5] Kiểm sát viên đề nghị: Xét mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Người bào chữa đề nghị: Xét thấy mức hình phạt người bào chữa đề nghị cho bị cáo chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[7] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Lường Văn Y vào ngày 14/5/2024, do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông đó. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có cơ sở để điều tra, làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 02 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lường Văn Y; 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh Đ, chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,04 gam Heroine và M2: 0,01 gam Heroine là chất Nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.
[10] Về án phí: Lẽ ra bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn đề nghị và tại phiên tòa xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lường Văn Y 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 14/5/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 02 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lường Văn Y; 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh Đ, chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,04 gam Heroine và M2: 0,01 gam Heroine theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/8/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Việt Hương |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Y
