|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------------------- |
|
Bản án số: 153/2024/DS-ST Ngày 22 – 7 – 2024 V/v tranh chấp HĐ về hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Văn Giang
- 2. Bà Đoàn Thị Sim
- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2024/TLST-DS, ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng về hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956; Địa chỉ: ấp Hưng H, xã Tân H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp Hưng H, xã Tân H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; Là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn P theo văn bản ủy quyền ngày 04/7/2024 (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp Hưng H, xã Tân H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn P có tham gia chơi hụi do ông Huỳnh Văn Đ làm chủ, cụ thể: Ngày 06/01/2021 âm lịch (viết tắt AL), ông Đ mở dây hụi 500.000 đồng, hụi tháng khui hai lần vào ngày 06 và ngày 21, dây hụi có 100 chân, ông P tham gia chơi 02 chân. Quá trình tham gia hụi, ông P đóng hụi sống được 81 kỳ hụi đến kỳ thứ 82 nhằm ngày 21/4/2024 (AL), ông Đ tuyên bố đình hụi nên trong dây hụi này, ông P đồng ý trừ tiền cò cho ông Đại là 1.000.000 đồng và chỉ yêu cầu ông Đ trả 80 kỳ hụi sống bằng với số tiền ông Đ gom hụi chết là 80.000.000 đồng; Ngày 15/10/2021 (AL), ông Đ mở dây hụi 1.000.000 đồng, hụi tháng khui 02 lần vào ngày 15 và ngày 30, hụi có 63 chân, ông P tham gia chơi 01 chân, hụi mãn ngày 15/4/2024 (AL). Quá trình tham gia hụi, ông P đã đóng hụi sống đến kỳ thứ 61 nhưng đến kỳ 62, ông Đ tuyên bố đình hụi nên trong dây hụi này, ông P đồng ý trừ tiền cò cho ông Đ là 1.000.000 đồng và chỉ yêu cầu ông Đ trả 60 kỳ hụi sống bằng với số tiền ông Đ gom hụi chết là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền hai dây hụi, ông Đ còn nợ ông P là 140.000.000 đồng nên ông P khởi kiện yêu cầu ông Đ trả một lần xong số tiền nợ trên. Ngoài ra, ông P không yêu cầu gì khác.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, ông Huỳnh Văn Đ (bị đơn) trình bày:
Về thời gian mở hụi, thời gian khui hụi, loại hụi, số hụi viên tham gia và số chân hụi ông Nguyễn Văn P tham gia, số kỳ hụi ông P đã đóng và thời gian đình hụi người đại diện của ông P trình bày là đúng. Các dây hụi này do ông làm chủ, việc chơi hụi có lập danh sách hụi viên nhưng không có đăng ký với chính quyền địa phương, khi hụi viên hốt hụi thì phải trả lại cho chủ hụi tiền cò là 350.000 đồng/chân đối với dây hụi 500.000 đồng, đối với dây hụi 1.000.000 đồng thì tiền cò là 700.000 đồng/chân. Trong thời gian giao dịch hụi, do một số hụi viên hốt không đóng lại hụi chết nên ngày 21/4/2024 (AL), ông tuyên bố đình hụi. Tại tòa, ông Đ thừa nhận có nợ và đồng ý trả tiền hụi cho ông P nhưng ông xin được trả lại bằng số tiền vốn ông P thực đóng, cụ thể: Dây hụi mở ngày 06/01/2021 (AL), số tiền ông P thực đóng cho mỗi chân hụi là 26.243.000 đồng, hai chân ông P thực đóng với số tiền 52.486.000 đồng; Dây hụi mở ngày 15/10/2021 (AL), số tiền ông P thực đóng là 43.395.000 đồng. Nay ông đồng ý trả cho ông P tổng số tiền hai dây hụi nêu trên là 95.881.000 đồng nhưng do đang gặp khó khăn nên xin chậm lại chờ ông bán được đất sẽ thanh toán cho ông P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn được xác định là tranh chấp hợp đồng về hụi. Quá trình thực hiện thỏa thuận về hụi, bị đơn đã đình hụi vào ngày 21/4/2024 (AL) nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền hụi đã góp cho nguyên đơn, nên giữa các đương sự xảy ra tranh chấp.
[2] Xét nội dung tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng việc mở các dây hụi vào ngày 06/01/2021 (AL) và ngày 15/10/2021 (AL) giữa các đương sự tuy không đăng ký với chính quyền địa phương nhưng có lập danh sách hụi viên, được các đương sự thừa nhận về thời gian mở hụi, thời gian khui hụi, loại hụi, số hụi viên tham gia, số chân hụi nguyên đơn tham gia và đóng hụi cũng như thời gian bị đơn đình hụi là sự thật nên không phải chứng minh.
[3] Tuy nhiên, việc bị đơn yêu cầu trả tiền hụi trong hai dây hụi trên bằng với tiền hụi thực tế nguyên đơn đã đóng là chưa có cơ sở bởi các dây hụi trên bị đơn tuyên bố đình hụi, không phải là vỡ hụi. Dù rằng bị đơn cung cấp danh sách từng kỳ hụi khui, số tiền hụi bỏ, hụi đóng của từng kỳ nhưng danh sách này được lập sau khi nguyên đơn đã khởi kiện được bị đơn thừa nhận tại phiên tòa. Hơn nữa, bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh từng kỳ khui hụi, hụi viên nào hốt hụi nên chưa đủ cơ sở xác định số tiền thực đóng của nguyên đơn là đúng với số tiền bị đơn trình bày trong khi bị đơn thừa nhận khi bị đơn tuyên bố đình hụi, một số hụi viên đã hốt hụi phải đóng lại hụi chết đã cùng với một số hụi viên còn hụi chưa hốt và bị đơn thống nhất gật số tiền hụi chết phải đóng lại cho bị đơn để trả cho hụi viên còn hụi sống, riêng một số hụi viên khác bị đơn vẫn đi gom hụi chết để trả cho hụi viên khác còn một số hụi viên không chịu đóng, bị đơn sẽ kiện đòi lại tiền hụi chết để trả lại cho hụi viên còn hụi sống. Do đó, cần buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tiền hụi sống bằng với tiền hụi chết là phù hợp.
[4] Do các dây hụi trên là hụi hưởng hoa hồng và tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý trừ lại tiền hoa hồng cho nguyên đơn, cụ thể: Dây hụi mở ngày 06/01/2021 (AL), lẽ ra mỗi chân hụi chỉ trả tiền cò là 350.000 đồng; Dây hụi mở ngày 15/10/2021 (AL), mỗi chân hụi chỉ trả tiền cò 700.000 đồng nhưng nguyên đơn đồng ý trả cho bị đơn số tiền cò của mỗi dây hụi là 1.000.000 đồng, hai dây hụi là 2.000.000 đồng – Đây là ý chí tự nguyện, quyền tự định đoạt của đương sự nên chấp nhận. Do đó, số tiền hụi còn lại nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là 140.000.000 đồng được chấp nhận.
[5] Về thời gian và phương thức thanh toán nợ, Hội đồng xét xử xét thấy do các đương sự không thỏa thuận được với nhau và việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu nhưng do bị đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được xét miễn án phí theo quy định. Đối với nguyên đơn không phải chịu, do nguyên đơn là người cao tuổi và đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải hoàn lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 468, 471 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn P.
Buộc ông Huỳnh Văn Đ trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền là 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày ông Nguyễn Văn P có đơn yêu cầu thi hành án, ông Huỳnh Văn Đ không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Ông Huỳnh Văn Đ là người cao tuổi, nên được miễn nộp án phí theo quy định.
Ông Nguyễn Văn P là người cao tuổi, đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải hoàn lại.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |
Bản án số 153/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng về hụi
- Số bản án: 153/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng về hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn P có tham gia chơi hụi do ông Huỳnh Văn Đ làm chủ, cụ thể: Ngày 06/01/2021 âm lịch (viết tắt AL), ông Đ mở dây hụi 500.000 đồng, hụi tháng khui hai lần vào ngày 06 và ngày 21, dây hụi có 100 chân, ông P tham gia chơi 02 chân. Quá trình tham gia hụi, ông P đóng hụi sống được 81 kỳ hụi đến kỳ thứ 82 nhằm ngày 21/4/2024 (AL), ông Đ tuyên bố đình hụi nên trong dây hụi này, ông P đồng ý trừ tiền cò cho ông Đại là 1.000.000 đồng và chỉ yêu cầu ông Đ trả 80 kỳ hụi sống bằng với số tiền ông Đ gom hụi chết là 80.000.000 đồng; Ngày 15/10/2021 (AL), ông Đ mở dây hụi 1.000.000 đồng, hụi tháng khui 02 lần vào ngày 15 và ngày 30, hụi có 63 chân, ông P tham gia chơi 01 chân, hụi mãn ngày 15/4/2024 (AL). Quá trình tham gia hụi, ông P đã đóng hụi sống đến kỳ thứ 61 nhưng đến kỳ 62, ông Đ tuyên bố đình hụi nên trong dây hụi này, ông P đồng ý trừ tiền cò cho ông Đ là 1.000.000 đồng và chỉ yêu cầu ông Đ trả 60 kỳ hụi sống bằng với số tiền ông Đ gom hụi chết là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền hai dây hụi, ông Đ còn nợ ông P là 140.000.000 đồng nên ông P khởi kiện yêu cầu ông Đ trả một lần xong số tiền nợ trên. Ngoài ra, ông P không yêu cầu gì khác.
