|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 153/2023/HS-ST Ngày 21-12-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Đẹp;
Ông Nguyễn Thanh Tùng;
Bà Lê Thị Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2023/QĐXXST-HS ngày 08/12/2023 đối với bị cáo:
Lê Thị Thùy T, sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: số I, đường V, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: ấp C, xã H, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nử; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D và con bà Trần Thị P; chồng tên Huỳnh Đức L, có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Thùy T: Bà Phạm Thu G, là Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt.
- Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1984; nơi cư trú: số B, đường M - T, tổ C, khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; nơi cư trú: số F, đường D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
2
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Đức L, sinh năm 1982; nơi cư trú: số I, Võ Minh Đ, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Thùy T và bà Nguyễn Thị V có cơ sở kinh doanh cạnh nhau trên đường M - T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên quen biết nhau. Từ năm 2016 đến năm 2017, do ham mê chơi game bắn cá, game đặt thú nên T thiếu nợ của nhiều người không xác định được với số tiền khoảng hơn 10.000.000.000đ (mười tỷ đồng). Để có tiền trả nợ, T đã thực hiện ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức đưa ra thông tin gian dối về việc đầu tư bất động sản để chiếm đoạt tài sản đối với bà Nguyễn Thị V.
Cuối năm 2018, T nói dối với bà V có quen biết người bạn tên Trương Tấn H, hiện đang kinh doanh bất động sản, sinh lời cao. T nhiều lần nói với bà V thông tin không có thật về những thửa đất có thể đầu tư trong thời gian từ 10 ngày đến 30 ngày sẽ thu được lợi nhuận cao nhằm làm cho bà V tin là thật mà giao tiền cho T để chiếm đoạt. T nói dối với bà V góp vốn kinh doanh bất động sản, nhưng thực chất T dùng tiền của bà V giao để trả nợ và sử dụng cho mục đích cá nhân. Thời gian đầu, nhằm tạo lòng tin đối với bà V và che giấu hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình, T trả tiền gốc và tiền lời đầy đủ.
Từ ngày 08/3/2019 đến 02/12/2019, T lừa bà V đưa tiền cho mình, sau khi lấy được tiền thì T nói dối đã đầu tư, thu được lợi nhuận cao. T vừa tìm được một mảnh đất khác có giá trị cao hơn và sinh lời nhiều hơn, chỉ cần bà V đầu tư thêm tiền, cộng với tiền lời, tiền gốc đã đầu tư ở thửa đất trước là đủ tiền góp vốn để đầu tư cho thửa đất mới. Bà V tin là thật đã đưa tiền cho T trực tiếp bằng tiền mặt nhiều lần và chuyển vào tài khoản của Lê Thị Thùy T số 050074403791 tại Ngân hàng S. Cụ thể vào ngày 22/8/2019, bà V chuyển cho T 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) và ngày 16/9/2019, bà V chuyển cho T 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng).
Số lần mà T lừa bà V góp vốn và số tiền T lừa dối sẽ góp với bà V được T ghi lại trong một tờ giấy (bút lục 73), cụ thể:
- - Ngày 20/07/2019: T và V góp vốn với nhau 1.700.000.000đ (một tỷ bảy trăm triệu đồng);
- - Ngày 01/10/2019: T và V góp vốn với nhau 3.700.000.000đ (ba tỷ bảy trăm triệu đồng);
- - Ngày 25/11/2019: T và V góp vốn với nhau 3.500.000.000đ (ba tỷ năm trăm triệu đồng);
3
- - Ngày 10/09/2019: T và V góp vốn với nhau 5.900.000.000đ (năm tỷ chín trăm triệu đồng);
- - Ngày 02/12/2019: T và V góp vốn với nhau 1.740.000.000đ (một tỷ bảy trăm bốn mươi triệu đồng);
- - Ngày 02/12/2019: T và V góp vốn với nhau 1.083.000.000đ (một tỷ không trăm tám mươi ba triệu đồng)
Tổng số 17.623.000.000đ (mười bảy tỷ sáu trăm hai mươi ba triệu đồng). Trong đó, T nói dối bà V rằng mình góp 2.400.000.000đ (hai tỷ bốn trăm triệu đồng), số tiền T chiếm đoạt của bà V là 15.223.000.000đ (mười lăm tỷ hai trăm hai mươi ba triệu đồng).
Ngoài số tiền trên, T nhiều lần mượn tiền bà V và nhờ bà V mượn hộ với tổng số tiền là 2.170.000.000đ (hai tỷ một trăm bảy mươi triệu đồng), cả hai đã xác định đây là giao dịch dân sự.
Sau khi chiếm đoạt được tiền của bà V, T nhiều lần trì hoãn việc trả tiền và cố tình tránh mặt. Đến ngày 08/02/2021, T viết “Giấy hùn vốn làm ăn”, thể hiện có nhận của bà V 17.393.000.000đ (mười bảy tỷ ba trăm chín mươi ba triệu đồng) và “Giấy khất nợ” thể hiện thời gian sẽ trả tiền cho bà V.
Sau nhiều lần đòi tiền nhưng T không trả và biết được T đang lừa đảo chiếm đoạt tiền của mình nên ngày 09/12/2021, bà V làm đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xử lý theo quy định.
Tính đến 18/8/2022, T đã trả cho bà V 540.000.000₫ (năm trăm bốn mươi triệu đồng), T giao tiền mặt và không có giấy tờ ghi lại. Cụ thể:
- - Ngày 11/5/2022: T đã trả cho bà V 500.0000.000đ (năm trăm triệu đồng);
- - Ngày 18/8/2022: T đã trả cho bà V 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
* Vật chứng thu giữ:
- - 06 (sáu) tờ giấy viết tay thể hiện việc giao nhận tiền (bản gốc);
- - 01 (một) giấy hùn vốn làm ăn đề ngày 08/02/2021(bản gốc);
- - 01 (một) giấy khất nợ lập đề ngày 08/02/2021(bản gốc);
- - 01 (một) Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất (nhà) và tài sản gắn liền với đất đề ngày 20/5/2020 (bản gốc);
- - 01 (một) giấy cam kết (bản gốc).
* Kết luận giám định:
Căn cứ kết luận giám định số 155/KL-KTHS ngày 21/5/2022 của Phòng Kỹ thuậy hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ ký chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A8) so với chữ ký và chữ viết trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) do cùng một ký và viết ra.
4
- Dấu vân tay mang tên “Lê Thị Thùy T” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 và A2) so với dấu vân tay ngón trỏ trái, trỏ phải của Lê Thị Thùy T trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1) là của cùng một người in ra (bút lục số 104, 105).
Căn cứ kết quả giám định số 148/KL-KTHS (TL–ĐV) ngày 23/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ viết mang tên “Lê Thị Thùy T" (trừ phần chữ viết kết luận tại mục 1.V) trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2 và từ A4 đến A6) so với chữ viết của Lê Thị Thùy T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2 và Mỹ) do cùng một người viết ra.
- Chữ ký và chữ viết họ tên “Lê Thị Thùy T" trên các tài liệu giám định (ký hiệu từ A1 đến A6) so với chữ ký và chữ viết họ tên của Lê Thị Thùy T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M6) do cùng một người ký và viết ra.
- Hai (02) dấu vân tay được Giám định viên đánh số 1, 2 mang tên “Lê Thị Thùy T” in trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A5) so với dấu vân tay ngón trỏ trái và ngón trỏ phải của Lê Thị Thùy T, sinh năm: 1991, nơi cư trú: Khu E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương in trên “Chỉ bản”, lập ngày 15/3/2021 tại PC01 (ký hiệu M6) là của cùng một người in ra (bút lục số 270, 271).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị V yêu cầu bị cáo Lê Thị Thùy T trả lại số tiền chiếm đoạt 14.683.000.000đ (mười bốn tỷ sáu trăm tám mươi ba triệu đồng) và tiền nợ giao dịch dân sự 2.170.000.000đ (hai tỷ một trăm bảy mươi triệu đồng).
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lê Thị Thùy T đối với bà Nguyễn Thị N.
Từ năm 2018, Lê Thị Thùy T quen biết bà Nguyễn Thị N thông qua bà Nguyễn Thị V (bà V và bà N có mối quan hệ họ hàng với nhau). Bằng thủ đoạn tương tự, T đã đưa ra thông tin gian dối lừa hùn vốn kinh doanh bất động sản trong thời gian ngắn sẽ sinh lời cao, làm cho bà Nguyễn Thị N tin là thật mà giao tiền cho T chiếm đoạt. Thông qua các giấy tờ viết tay thu thập được, thể hiện T đã chiếm đoạt của bà N 13.260.000.000đ (mười ba tỷ hai trăm sáu mươi triệu đồng) (bút lục số 259), với 5 lần giao tiền mặt, cụ thể:
- - Ngày 08/3/2019: bà N giao cho T 1.800.000.000đ (một tỷ tám trăm triệu đồng).
- - Ngày 12/8/2019: Bà N1 giao cho T 1.500.000.000đ (một tỷ năm trăm triệu đồng).
- - Ngày 20/8/2019: Bà N1 giao cho T 2.780.000.000đ (hai tỷ bảy trăm tám mươi triệu đồng).
- - Ngày 10/9/2019: Bà N1 giao cho T 5.900.000.000₫ (năm tỷ chín trăm triệu đồng).
5
- Ngày 10/11/2019: Bà N1 giao cho T 1.280.000.000đ (một tỷ hai trăm tám mươi triệu đồng).
Do số tiền lợi nhuận và tiền gốc đã nhận của bà N1 ngày càng nhiều, T không thể tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được nữa nên ngày 30/12/2019, T tự nguyện viết giấy mượn tiền của bà Nguyễn Thị N 16.707.000.000đ (mười sáu tỷ bảy trăm linh bảy triệu đồng). Trong đó tiền gốc 13.260.000.000đ (mười ba tỷ hai trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lời hứa hẹn 3.447.000.000đ (ba tỷ bốn trăm bốn mươi bảy triệu đồng).
Như vậy tổng số tiền T chiếm đoạt của bà N là 13.260.000.000đ (mười ba tỷ hai trăm sáu mươi triệu đồng).
Sau đó từ tháng 5/2020 – 8/2020, T đã chủ động trả cho bà N 2.479.000.000đ (hai tỷ bốn trăm bảy mươi chín triệu đồng), cụ thể:
- Ngày 22/05/2020, T trả cho bà N 2.159.000.000₫ (hai tỷ một trăm năm mươi chín triệu đồng) (bút lục số 154);
- Ngày 01/8/2020, T trả cho bà N 1.370.000.000đ (một tỷ ba trăm bảy mươi triệu đồng). Trong đó bao gồm giá trị 01 (một) chiếc xe ô tô Honda CRV, biển số 61A – 685.64 mà T đã bán cho vợ chồng bà N, trị giá 1.050.000.0000đ (một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên ngày 15/11/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế VIB tiến hành thu giữ chiếc xe ô tô trên để xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay mà vợ chồng T đã vay tại Ngân hàng (bút lục số 155, 262). Do vậy, trong lần trả tiền này T chỉ trả được cho bà N 320.000.000đ (ba trăm hai mươi triệu đồng).
Đến ngày 06/8/2020, T tiếp tục viết giấy khất nợ xác định lộ trình trả nợ cho bà N.
Ngoài ra, quá trình điều tra Lê Thị Thùy T còn vay nợ của bà N 504.500.000đ (năm trăm lẻ bốn triệu năm trăm nghìn đồng), các bên xác định đây là giao dịch dân sự.
Ngày 07/12/2022, bà Nguyễn Thị N có đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) giấy bán xe đề ngày 22/5/2020 (bản gốc);
- - 01 (một) giấy mượn tiền đề ngày 30/12/2019(bản gốc);
- - 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 06/8/2020 (bản gốc);
- - 01 (một) giấy khất nợ ngày 20/6/2020 (bản gốc).
* Kết luận giám định:
Căn cứ kết quả giám định số 148/KL – KTHS (TL – ĐV) ngày 23/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:
6
- Chữ viết có nội dung “Hôm nay là 01/08/2020 anh Đ1 chị N có nhận lại từ T số tiền là 1.370.000.000đ (một tỷ ba bảy mười trăm triệu đồng) so" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1), trên “Giấy bán xe” (ký hiệu A3) và chữ viết có tiêu đề “Giấy vay tiền” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A6) so với chữ viết của Lê Thị Thùy T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ Mỹ đến M) không phải do cùng một người viết ra.
- Chữ viết mang tên “Lê Thị Thùy T" (trừ phần chữ viết kết luận tại mục 1.V) trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2 và từ A4 đến A6) so với chữ viết của Lê Thị Thùy T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2 và Mỹ) do cùng một người viết ra.
- Chữ ký và chữ viết họ tên “Lê Thị Thùy T" trên các tài liệu giám định (ký hiệu từ A1 đến A6) so với chữ ký và chữ viết họ tên của Lê Thị Thùy T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M6) do cùng một người ký và viết ra.
- Hai (02) dấu vân tay được Giám định viên đánh số 1, 2 mang tên “Lê Thị Thùy T” in trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A5) so với dấu vân tay ngón trỏ trái và ngón trỏ phải của Lê Thị Thùy T, sinh năm: 1991, nơi cư trú: Khu E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương in trên “Chỉ bản”, lập ngày 15/3/2021 tại PC01 (ký hiệu M6) là của cùng một người in ra (bút lục số 270).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị N yêu cầu bị can T trả lại 14.391.500.000 (mười bốn tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó bà N yêu cầu số tiền chiếm đoạt 13.887.000.000đ (mười ba tỷ tám trăm tám mươi bảy triệu đồng) và số tiền nợ dân sự 504.500.000đ (năm trăm lẻ bốn triệu năm trăm nghìn đồng)
Cáo trạng số 180/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 10 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thị Thùy T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Thùy T khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Thị Thùy T, quá trình điều tra cũng như tại phiên toàn ngày hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các biên bản hỏi cung, biên bản ghi lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, người liên quan, kết luận giám định, kết quả xác minh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án... đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị Thùy T đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã trả lại một phần số tiền chiếm đoạt; bị cáo đang mang thai; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm b, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1
7
Điều 52. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Thùy T mức án từ 16 năm tù đến 17 năm tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Biện pháp tư pháp: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- - Buộc bị cáo Lê Thị Thùy T bồi thường cho bà Nguyễn Thị V 14.683.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Lê Thị Thùy T bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị N 10.781.000.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo T trình bày nội dung bào chữa: Không có ý kiến gì về tội danh và điều luật như Viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên đối với số tiền mà Viện kiểm sát làm căn cứ truy tố thì đề nghị xem xét lại do tại phiên tòa bị cáo trình bày nguồn tiền đã trả tiền lãi hùn vốn mua đất là tiền lấy từ bà V trả qua cho bà N và ngược lại nhưng chưa được làm rõ, tiền lãi được cộng vào tiền hùn vốn. Đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ những vấn đề này.
Bị cáo không tranh luận bổ sung.
Bị hại N có ý kiến tranh luận: Không đồng ý với lời trình bày của người bào chữa vì số tiền đã dược xác định trong quá trình điều tra và cáo trạng là số tiền thực tế đã giao cho bị cáo, không phải là tiền lãi đã cộng vào.
Bị hại V không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Quá trình điều tra đã bóc tách làm rõ phần nào là tiền lãi, phần nào là tiền gốc và đã cho tiến hành đối chất giữa bị cáo và bị hại xác định tiền gốc hùn vốn nên đề nghị của người bào chữa là không có căn cứ.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ
8
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Thùy T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/7/2019 đến ngày 02/12/2019 trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Lê Thị Thùy T đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, với thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối về các thửa đất đầu tư ngắn hạn nhưng sinh lời nhanh làm cho bà Nguyễn Thị V tin là thật giao 15.223.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N tin là thật giao 13.260.000.000 đồng cho Lê Thị Thùy T chiếm đoạt. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị N là 28.483.000.000₫ (hai mươi tám tỷ bốn trăm tám mươi ba triệu đồng). Hành vi của bị cáo Lê Thị Thùy T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 180/CT-VKSBD-P1 ngày 26 tháng 10 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thị Thùy T theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi đưa ra thông tin gian dối để bị hại giao tài sản rồi chiếm đoạt tiền của bị hại là hành vi trái pháp luật nhưng vì tham lam tư lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải; đã trả lại khắc phục một phần hậu quả cho bị hại và bị cáo đang mang thai.
[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận. Đối với mức hình phạt như đề nghị là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện nên không được chấp nhận.
[7] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị là chưa phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị V 15.223.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N 13.260.000.000 đồng.
9
Bị cáo đã trả lại cho bà V 540.000.000 đồng và bà N 2.479.000.000đ (hai tỷ bốn trăm bảy mươi chín triệu đồng). Do đó, cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại số tiền chiếm đoạt còn lại. Đối với số tiền bị cáo vay của các bị hại là giao dịch dân sự, các bị hại có quyền khởi kiện đòi lại bằng vụ án dân sự khác.
[9] Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thùy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s và n khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Thùy T 19 (mười chín) năm tù.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586; 587 và 589 Bộ luật Dân sự.
- Buộc bị cáo Lê Thị Thùy T có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị V 14.683.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị N 10.781.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Thị Thùy T bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 133.464.000 (một trăm ba mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
10
Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quân Vương |
11
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quân Vương |
Bản án số 153/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 153/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thùy T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
