|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày 21/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh
2. Ông Lê Đình Hiệp
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/TLHS-ST, ngày 27/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS, ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị D, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1993
Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không.
Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973. Con bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1974. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Chồng: La Văn H, sinh năm 1992, có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án: Tại bản án số 55/2023/HSST, ngày 15/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/8/2023.
Nhân thân: Tại bản án số 31/2020/HSST, ngày 12/5/2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/12/2020. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/6/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/3/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Ngày 13/11/2023, Nguyễn Thị D được chị Nguyễn Thị L (sinh năm: 1989, HKTT: Tổ C, phường Q, thành phố T) nhận làm nhân viên massage tại cửa hàng S có địa chỉ tại tổ C, phường Q, T chị L làm chủ. Khoảng 15 giờ ngày 15/11/2023, chị L nhờ D mát xa toàn thân cho chị L nên chị L đã tháo 03 chiếc nhẫn kim loại màu vàng và 01 chiếc lắc tay kim loại màu vàng để trên khay đựng đồ để ở sát chân giường rồi nằm sấp trên ghế để D massage toàn thân cho mình. Trong quá trình massage, D lấy dụng cụ trong phòng để làm thì nhìn thấy nhẫn và lắc tay của chị L để ở ngăn trên cùng của kệ (kệ có 3 ngăn) nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt nhẫn và lắc tay của chị L đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. D thấy chị L đang nằm sấp không quan sát được nên D nhanh chóng dùng tay phải lén lút cầm 03 (Ba) chiếc nhẫn và 01 (Một) chiếc lắc tay trên cất vào trong túi áo bên phải đang mặc, D tiếp tục massage cho chị L. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, D đem số tài sản trộm cắp được cất giấu trong phòng trọ tại tổ C, phường C, thành phố T. Quá trình cất giấu D làm mất 01 chiếc nhẫn (D không xác định được vị trí bị mất). Đến tối ngày 16/11/2023, chị L phát hiện bị mất nhẫn và lắc tay, chị L đã kiểm tra Camera an ninh của quán phát hiện D lấy trộm tài sản trên, chị L gọi điện hỏi D về trang sức nêu trên nhưng D đã nói dối chị L là không biết. Chị L đã đến Công an thành phố T trình báo sự việc. Đến ngày 17/11/2023 D đã mang số trang sức đã trộm cắp đến trả chị L gồm 01 chiếc lắc tay và 02 chiếc nhẫn. Còn 01 chiếc nhẫn D không tìm thấy nên chị L yêu cầu D bồi thường số tiền 4.000.000 đồng, D đồng ý và đã bồi thường cho chị L số tiền nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 9091/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của V Bộ C1 kết luận khối lượng, hàm lượng các vật chứng đã thu giữ như sau:
- - 01 chiếc lắc tay (Ký hiệu M1) chứa: 4,31 gam hợp kim vàng (A), bạc (A), đồng (Cu), hàm lượng Au 74,66%; Ag 10,85%. Các hạt kim loại hình cầu được mạ kim loại rhodi (R) và P (P1).
- - 01 chiếc nhẫn (Ký hiệu M2) chứa: 3,73 gam vàng (A), hàm lượng 99,96%.
- - 01 chiếc nhẫn (Ký hiệu M3) chứa: 1,09 gam hợp kim của vàng (A), bạc (A), đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng Au 41,02%, Ag 6,72% (BL 39-40).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng thành phố T kết luận giá trị các vật chứng đã thu giữ như sau:
- 01 chiếc lắc tay (Ký hiệu M1) có giá trị là 5.010.000đ (Năm triệu không trăm mười nghìn đồng).
- 01 chiếc nhẫn (Ký hiệu M2) có giá trị là 5.815.000đ (Năm triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng).
- 01 chiếc nhẫn (Ký hiệu M3) có giá trị là 695.000đ (Sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Tổng giá trị thiệt hại của tài sản trên là 11.520.000 đồng.
01 nhẫn kim loại màu vàng (không thu được mẫu vật) không có cơ sở xác định giá trị của tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị D đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình, phù hợp với Đơn trình báo; Biên bản làm việc; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường; Lời khai của người bị hại; Người làm chứng; Kết luận giám định; Kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 (Một) lắc tay kim loại màu vàng, màu trắng, dạng vòng tay, được xâu từ 45 hạt hình cầu có kích thước khác nhau, tại móc khóa có khắc chữ và số: "ITALY, 760" (Ký hiệu M1);
- - 01 (Một) nhẫn kim loại màu vàng hình tròn, mặt bên trong nhẫn có khắc chữ và số: “1 CHI, QUÝ TÙNG 9999" (Ký hiệu M2);
- - 01 (Một) nhẫn kim loại màu vàng hình tròn, mặt trong nhẫn có khắc chữ và số: “Tuấn Lương, 2-9” (Ký hiệu M3);
Hiện đã thu hồi và trả lại cho chị Hoàng Thị L1 là chủ sở hữu quản lý và sử dụng.
- - 01 USB màu trắng lưu trữ file video vụ trộm cắp nêu trên, đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định, chuyển theo hồ sơ vụ án).
Phần dân sự:
Bị cáo D đã trả lại cho chị L1 01 chiếc lắc tay (chứa 4,31 gam hợp kim vàng), 02 chiếc nhẫn trong đó có 01 chiếc nhẫn chứa 3,73 gam vàng và 01 chiếc nhẫn chứa 1,09 gam hợp kim của vàng. Đối với chiếc nhẫn bị cáo làm mất, bị cáo đã tự thoả thuận đã bồi thường cho chị L1 số tiền 4.000.000 đồng. Chị L1 không yêu cầu và đề nghị gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 151/CT-VKSTPTN, ngày 25/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Thị D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 15 đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số 55/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì
- - Về vật chứng: 01 USB màu trắng lưu trữ file video vụ trộm cắp (được niêm phong theo quy định, chuyển theo hồ sơ vụ án).
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng hưởng mức án thấp nhất và để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản... và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 15/11/2023 tại tổ C, phường Q, thành phố T, Nguyễn Thị D đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị L 01 chiếc lắc tay (chứa 4,31 gam hợp kim vàng); 02 chiếc nhẫn (trong đó có 01 chiếc nhẫn chứa 3,73 gam vàng; 01 chiếc nhẫn chứa 1,09 gam hợp kim của vàng). Tổng trị giá 11.520.000 đồng (mười một triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng). Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, trong vụ án này là quyền sở hữu tài sản của chị Nguyễn Thị L. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
- - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” và “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Toà án xử phạt tù về hành vi Trộm cắp tài sản, tuy nhiên bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chỉ vì không tiền tiêu xài cá nhân mà lao vào con đường phạm tội thể hiện lỗi cố ý trực tiếp.
[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 55/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 30 đến 33 tháng tù.
Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 55/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/3/2024. Được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 21/4/2023 đến ngày 22/5/2023.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thị D 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106, 107 Bộ luật Tố tụng hình sự. 01 USB màu trắng lưu trữ file video vụ trộm cắp (được niêm phong theo quy định, chuyển theo hồ sơ vụ án).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
