|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 153/2025/HS-ST Ngày 24-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Huỳnh Thị Kim Kiên;
Ông Trần Văn Tam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Giáp Văn T, sinh năm 1995 tại Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 805/14/25, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giáp Văn B và bà Hoàng Thị N; vợ là Nguyễn Thị V, có 02 con sinh năm 2018 và 2019.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 14/9/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 358/2020/HS-ST.
Bị tạm giữ ngày 28/11/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 2359/LTG-ĐTTH ngày 06/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B. (Có mặt).
- Bị hại.
1. Bà Vũ Thị Thu H, sinh năm 1972;
Địa chỉ: B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
2. Bà Lê Thị P, sinh năm 1967.
Địa chỉ: A, tổ G, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH V1.
Địa chỉ: A N, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thanh T1 – Giám đốc. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, Giáp Văn T đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản với thủ đoạn: Vào rạng sáng (khoảng từ 02 giờ đến 03 giờ), T đi bộ một mình mang theo 01 cờ lê đến nhà người dân rồi leo lên mái tôn nằm chờ đến sáng. Khi chủ nhà đi làm, không có ai ở nhà, T dùng cờ lê mang theo mở ốc mái tôn, chui xuống đứng trên thanh xà trần nhà, dùng tay tháo tấm thạch cao để trèo vào nhà, lục tìm tài sản trộm cắp, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ ngày 25/7/2024, T đột nhập vào nhà chị Vũ Thị Thu H tại B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai lấy trộm 01 con heo đất màu xanh để trong tủ gỗ tại phòng sinh hoạt chung nhà chị H. Sau đó, T mang con heo đất ra phía nhà bếp đập vỡ, bên trong có số tiền 15.000.000 đồng, T bỏ số tiền trên vào túi quần, trèo lên tủ gỗ, theo đường đã đột nhập vào nhà tẩu thoát ra ngoài. Số tiền trên, T đã tiêu xài hết.
Vật chứng vụ án: Số tiền 15.000.000 đồng của chị Vũ Thị Thu H, sau khi trộm cắp được T đã tiêu xài hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Thị Thu H không yêu cầu bị cáo Giáp Văn T bồi thường thiệt hại.
Vụ thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 27/11/2024, T mang theo 01 cờ lê và 01 cây kéo kim loại dài khoảng 25cm, đột nhập vào nhà chị Lê Thị P tại số A, tổ G, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai lấy trộm: 01 sợi dây chuyền có gắn 01 mặt dây chuyền vàng 23K có trọng lượng 2 chỉ 4 phân; 01 đôi bông tai,
hình bông hoa vàng 23K trọng lượng 01 chỉ; 02 nhẫn vàng 9999 mỗi nhẫn có trọng lượng 01 chỉ; 01 nhẫn vàng 14K trọng lượng 4 phân của chị P để trong túi xách trong ngăn tủ phòng ngủ rồi T theo đường đã đột nhập vào nhà tẩu thoát ra ngoài. Sau khi trộm cắp được tài sản, T mang số vàng trộm cắp được đến Công ty TNHH V1 tại số A N, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán được số tiền 44.360.000 đồng. Số tiền này, T đã tiêu xài cá nhân và trả nợ hết.
Vật chứng thu giữ, gồm:
- - 01 sợi dây chuyền và 01 mặt dây chuyền vàng 23K có trọng lượng 2 chỉ 4 phân; 01 đôi bông tai, hình bông hoa vàng 23K trọng lượng 01 chỉ; 02 nhẫn vàng 9999 mỗi nhẫn có trọng lượng 01 chỉ; 03 mảnh vàng 14K, trọng lượng 04 phân (do 01 nhẫn vàng 14K trọng lượng 4 phân đã nấu ra thành 03 mảnh vàng nhỏ hơn). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chị P.
- - 01 cờ lê số 8 có dòng chữ Chrome Vanadium và 01 cây kéo kim loại dài khoảng 25cm cán nhựa màu cam là công cụ T dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 cái áo sơ mi dài tay màu xanh dương, 01 quần dài màu xanh và 01 nón vải màu đỏ của T không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho T.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 405/KL-HĐĐGTS ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 sợi dây chuyền có gắn mặt dây chuyền bằng vàng 23K, 01 đôi bông tai bằng vàng 23K, 02 nhẫn trơn bằng vàng 9999 và 03 mảnh vàng 14K có tổng giá trị định giá tài sản là 47.065.080 đồng”.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Chị Lê Thị P đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
- - Gia đình Giáp Văn T đã bồi cho Công ty TNHH V1 số tiền 24.000.000 đồng. Công ty TNHH V1 yêu cầu T tiếp tục bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 176/CT-VKSBH ngày 25/02/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Giáp Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố Giáp Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không bào chữa và tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ và hợp lệ. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do cần tiền tiêu xài, từ ngày 25/7/2024 đến ngày 27/11/2024, Giáp Văn T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 62.065.080 đồng, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ, ngày 25/7/2024, tại nhà số B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, T đã trộm cắp số tiền 15.000.000 đồng của chị Vũ Thị Thu H.
Vụ thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 27/11/2024, tại nhà số A, tổ G, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, T đã trộm cắp: 01 sợi dây chuyền có gắn mặt dây chuyền bằng vàng 23K, 01 đôi bông tai bằng vàng 23K, 02 nhẫn trơn bằng vàng 9999 và 01 nhẫn vàng 14K, có tổng trị giá là 47.065.080 đồng của chị Lê Thị P.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung, lời khai bị hại, kết luận định giá cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nay lại tiếp tục thực hiện
hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thể hiện bị cáo không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng: 01 cờ lê số 8 có dòng chữ Chrome Vanadium và 01 cây kéo kim loại dài khoảng 25cm cán nhựa màu cam là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Gia đình Giáp Văn T đã bồi cho Công ty TNHH V1 số tiền 24.000.000 đồng. Công ty TNHH V1 yêu cầu T tiếp tục bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH V1 số tiền 20.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố: Bị cáo Giáp Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Giáp Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2024.
2. Về dân sự: Căn cứ Điều 584; Điều 589; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Giáp Văn T có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH V1 số tiền 20.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty TNHH V1 cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 cờ lê số 8 có dòng chữ Chrome Vanadium và 01 cây kéo kim loại dài khoảng 25cm cán nhựa màu cam. (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Giáp Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hoàng Long |
Bản án số 153/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 153/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giáp Văn T, sinh năm 1995 phạm tội "Trộm cắp tài sản"
