Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2025/HS-ST.

Ngày: 21/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng

Ông Nguyễn Đình Vụ

- Thư ký phiên tòa:

Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Q - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 133/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Viết H, Sinh năm: 1981; số CCCD: [...]; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Viết H1 (đã chết), con bà Trần Thị H2; vợ Phạm Thị L và có 03 con lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: 14/11/2024 đến ngày 23/11/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Thị L1, Sinh năm: 1980; số CCCD: [...]; nơi cư trú: phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Khắc T (đã chết), con bà Nguyễn Thị B; chồng là Phạm Xuân D (đã ly hôn) và có 02 con lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Phạm Thị Tuyết N, sinh năm 1984. (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Phố P, phường Q, TP T, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Phạm Quốc L2, sinh năm 1989. (vắng mặt)
    Nơi cư trú: P, nhà 13, Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1993. (vắng mặt)
    Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Anh Mai K, sinh năm 1989. (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Lô E, Đ, phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/11/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T nhận được đơn phản ánh của quần chúng nhân dân đối với Nguyễn Viết H, về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Ngày 14/11/2024, Nguyễn Viết H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú và giao nộp 02 giấy vay tiền mang tên Phạm Thị Tuyết N, sinh năm 1984, trú tại phố P, phường Q, thành phố T và 01 giấy vay tiền mang tên Nguyễn Văn H3, sinh năm 1993, trú tại thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Viết H khai nhận, ngoài bản thân mình, H còn cùng với Nguyễn Thị L1 cho nhiều khách vay tiền.

Ngày 14/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Viết H, kết quả khám xét không phát hiện thu gì tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Viết H (BL: 13-14).

Tại Cơ quan Cảnh Sát điều tra, Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 khai nhận: Trong khoảng thời gian tháng 4/2024 đến tháng 11/2024, Nguyễn Viết H cùng Nguyễn Thị L1 bàn bạc và thống nhất với nhau cho một số cá nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá vay tiền dưới hình thức vay lãi tháng, lãi suất gấp từ 12 lần đến 20 lần lãi suất theo quy định. Nguyễn Thị L1 là người giới thiệu khách vay còn tiền cho vay là của Nguyễn Viết H, đối với các khoản cho vay mà H và L1 cùng góp tiền cho vay thì tiền lãi và các khoản thu khác thu được thì H và L1 chia đôi, cụ thể như sau:

  1. Đối với anh Mai K, sinh năm 1989, trú tại Lô E, Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
    Đầu tháng 5/2024, H và L1 cho anh Mai K vay số tiền 20.000.000 đồng (tiền gốc của H), lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày, gấp 20,2 lần lãi suất theo quy định. H và L1 cắt trước tháng lãi đầu tiên 6.000.000 đồng và 2.000.000 đồng tiền phí, đưa cho anh Mai K 12.000.000 đồng. Đến tháng 7 năm 2024, anh K đã trả hết tiền gốc và lãi cho H và L1. Tổng số tiền lãi và khoản phí đã thu là 20.000.00 đồng (trong đó: lãi suất theo quy định là 986.301 đồng, H thu lời bất chính số tiền là 19.013.699 đồng).
  2. Đối với anh Phạm Quốc L2, sinh năm 1989, trú tại P, chung cư Đ, phường Đ, thành phố T.
    Ngày 18/4/2024, H và L1 cho anh Phạm Quốc L2 vay 10.000.000đ (tiền gốc của H) với lãi suất 8.000đ/triệu/ngày, gấp 15,4 lần lãi suất theo quy định. H và L1 cắt trước tiền lãi tháng đầu 2.400.000 đồng và 1.000.000 đồng tiền phí còn đưa cho L2 6.600.000 đồng để L1 đưa cho anh L2. Đến ngày 18/9/2024, anh L2 đã trả hết tiền gốc và tiền lãi cho H và L1. Tổng số tiền H và L1 cho anh L2 vay là 10.000.000 đồng, số tiền lãi và khoản phí đã thu là 13.000.000 đồng (trong đó lãi suất theo quy định là 843.836 đồng, H thu lời bất chính số tiền là 12.156.164 đồng).
  3. Đối với anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1993, trú tại thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
    Ngày 19/6/2024, H và L1 cho anh Nguyễn Văn H3 vay số tiền 20.000.000 đồng (Tiền gốc của H), lãi suất 8.000đ/triệu/ngày, gấp 14,1 lần lãi suất theo quy định. Đến ngày 19/9/2024, anh H3 đã trả đủ tiền gốc và lãi cho H và L1. Tổng số thu tiền lãi nhằm thu và đã thu là là 14.400.000đ (trong đó: lãi suất theo quy định: 1.019.178 đồng; H thu lời bất chính số tiền là 13.380.822 đồng).
  4. Đối với Phạm Thị Tuyết N, sinh năm 1984, trú tại phố P, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
    Ngày 19/4/2024, H và L1 góp tiền cho chị Phạm Thị Tuyết N vay số tiền 50.000.000 đồng (Tiền gốc do H góp 30.000.000 đồng và L1 góp 20.000.000 đồng), lãi suất 12.500.000đ/tháng, tương đương gấp 14,8 lần lãi suất theo quy định. Sau khi đóng được 03 tháng tiền lãi, tương ứng 37.500.000 đồng. Do hoàn cảnh khó khăn nên đến tháng 7 năm 2024, chị N xin giảm tiền lãi thì H và L1 đồng ý cho chị N lãi suất 10.000.000đ/tháng. H và L1 đã thu thêm của chị N số tiền lãi 28.500.000đ. Tính đến thời điểm bị ngăn chặn, số tiền lãi nhằm thu của H và L1 là 75.500.000đ, số tiền lãi đã thu là 66.000.000 đồng (trong đó: lãi suất theo quy định là 5.643.836 đồng; số tiền thu lời bất chính là 60.356.164 đồng). Chị N chưa trả tiền gốc cho H và L1.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2024 đến thời điểm bị ngăn chặn, Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 đã cho 04 khách vay với số tiền 100.000.000đ; số tiền lãi và các khoản thu khác đã thu được là 113.400.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS là 8.493.150 đồng, tổng số tiền thu lời bất chính là 104.906.850 đồng.

Về phần trách nhiệm dân sự:

  • Đối với anh Mai K, Phạm Quốc L2, Phạm Thị Tuyết N yêu cầu Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 trả lại số tiền lãi và khoản đã thu quá quy định.
  • Anh Nguyễn Văn H3 không có yêu cầu, đề nghị gì.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 giấy vay tiền mang tên Phạm Thị Tuyết N, và 01 giấy vay tiền mang tên Nguyễn Văn H3, chuyển kèm theo hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số: 73/CTr-VKS ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như quyết định của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của BLHS đối với các bị cáo. Đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Viết H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; bị cáo Nguyễn Thị L1 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Phạt tiền bổ sung: Phạt mỗi bị cáo số tiền từ 40 triệu đến 50 triệu đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu từ bị cáo Nguyễn Viết H số tiền gốc dùng vào việc phạm tội là 50.000.000đ và số tiền lãi theo quy định của BLDS là 5.643.836 đồng/2 = 2.821.918 đồng + 1.019.178 đồng + 843.836 đồng + 986.301 đồng, tổng là 5.671.233 đồng để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

Truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị L1 số tiền lãi theo quy định của BLDS là 2.821.918 đồng để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước. Truy thu số tiền gốc của khách hàng chưa trả cho các bị cáo là chị Phạm Thị Tuyết N số tiển 50.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Nguyễn Viết H phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho 02 khách vay là anh Mai K số tiền 19.013.699 đồng; cho anh Phạm Quốc L2 số tiền 12.156.164 đồng và trả cho chị Phạm Thị Tuyết N số tiền 30.178.082 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị L1 phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Phạm Thị Tuyết N số tiền 30.178.082 đồng.

Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn H3 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Viết H giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.

Về án phí:

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát Công an thành phố T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.

[2]. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2024 đến ngày 14/11/2024, Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 đã thỏa thuận và thống nhất với nhau cho anh Mai K, anh Phạm Quốc L2, chị Phạm Thị Tuyết N và anh Nguyễn Văn H3 vay tổng số tiền 100.000.000 đồng (trong đó: Nguyễn Viết H bỏ ra 80.000.000 đồng và Nguyễn Thị L1 bỏ ra 20.000.000 đồng) với lãi suất từ 8.000đ/1triệu/ngày đến 12.500đ/triệu/ngày, gấp từ 12 lần đến 20,2 lần lãi suất theo quy định. Tổng số tiền lãi Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 đã thu được là 113.400.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS là 8.493.150 đồng, số tiền thu lời bất chính là 104.906.850 đồng (L1 thu lời bất chính số tiền 30.178.082 đồng, H thu lời bất chính số tiền 74.728.768 đồng).

Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo đã khai tại phiên toà hôm nay với các lời khai trước đây các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người vay tiền, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của BLHS. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật và do nhu cầu cần vay tiền của một số cá nhân, các bị cáo đã cho vay với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, hành vi của các bị cáo phạm tội chỉ mang tính bột phát và thuộc loại ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính mà hành vi phạm tội của các bị cáo còn mang tích chất bóc lột, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng. Gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng chống các tệ nạn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích hám lợi và thái độ xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh.

Tuy nhiên cũng cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt. Bị cáo Nguyễn Viết H là người bỏ số tiền cho vay nhiều hơn Nguyễn Thị L1 và trực tiếp gặp, đặt vấn đề, giao dịch cung cấp toàn bộ số tiền cho các khách vay và bị cáo Nguyễn Thị L1 là người bỏ số tiền cho khách vay ít hơn H và số tiền thu lời bất chính của L1 ít hơn H, nên Nguyễn Viết H giữ vai trò chính trong vụ án và mức hình phạt của H phải cao hơn Nguyễn Thị L1 là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và ủng hộ quà cho các cháu ở làng trẻ SOS, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Viết H có thêm tình tiết giảm nhẹ là sau khi phạm tội đến cơ quan Công an đầu thú để khai nhận hành vi phạm tội của mình được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo, thì trong vụ án này Nguyễn Viết H phải chịu mức hình phạt cao hơn so vơi bị cáo Nguyễn Thị L1 là phù hợp.

Vì hành vi của các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo. Vì các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội, cần áp dụng Điều 65 của BLHS để cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ sức giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 phạm tội có tính chất vụ lợi nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về biện pháp tư pháp:

[5.1] Đối với toàn bộ số tiền gốc là 100.000.000đ (trong đó Nguyễn Viết H bỏ ra cho vay 50.000.000 đồng cho K, L2 và H3 vay đã thanh toán hết cho H) và 50.000.000 đồng (trong đó Nguyễn Viết H 30.000.000 đồng và của Nguyễn Thị L1 20.000.000 đồng cho Phạm Thị Tuyết N vay nhưng N chưa thanh toán số tiền gốc cho H và L1) đây được xác định là tiền do các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm; do đó truy thu từ Nguyễn Viết H số tiền gốc là 50.000.000đ để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 của BLHS.

[5.2] Truy thu của khách vay là chị Phạm Thị Tuyết N chưa thanh toán số tiền gốc cho bị cáo Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 số tiền 50.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[5.3] Toàn bộ số lãi tương ứng với mức lãi suất 20% năm mà bị cáo Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 thu được từ khách hàng là 8.493.150 đồng được xác định đây là tiền do phạm tội mà có, vì bị cáo H có số tiền cho vay nhiều hơn và được hưởng nhiều tiền lãi hơn, cần truy thu từ bị cáo Nguyễn Viết H số tiền 5.671.233 đồng, truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị L1 số tiển 2.821.918 đồng để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

[5.4] Đối với số tiền thu lời bất chính:

Đối với số tiền thu lời bất chính từ các khách vay Mai K và Phạm Quốc L2 do H hưởng toàn bộ nên buộc bị cáo Nguyễn Viết H phải trả lại cho các khách vay này, cụ thể: Trả cho anh số tiền 19.013.699 đồng, trả cho anh Phạm Quốc L2 số tiền 12.156.164 đồng.

Riêng khoản tiền thu lời bất chính của chị Phạm Thị Tuyết N số tiền 60.356.164 đồng do Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 cùng nhau được hưởng lợi chung nên buộc mỗi bị cáo phải trả cho chị N số tiền 30.178.082 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H3 không yêu cầu gì về phần dân sự, cần được chấp nhận sự tự nguyện.

Như vậy, truy thu của bị cáo Nguyễn Viết H số tiền dùng vào việc phạm tội là 50.000.000đ, tiền lãi theo quy định của BLDS là 5.671.233 đồng. Tổng là 55.671.233 đồng (làm tròn số: 55.671.000 đồng) và truy thu của Nguyễn Thị L1 số tiền lãi theo quy định của BLDS là 2.821.918 đồng (làm tròn số: 2.821.000đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Đối với khoản thu lời bất chính các bị cáo phải trả lại cho người vay tiền, căn cứ vào Điều 23, 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì không buộc các bị cáo phải chịu án phí. Các bị cáo phải nộp án phí HSST quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016 của Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 BLHS (đối với Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1); điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1; khoản 2 Điều 47 của BLHS. Khoản 1, khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (đối với 02 bị cáo).

Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Nguyễn Viết H 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    Phạt bị cáo số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  2. Bị cáo Nguyễn Thị L1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    Phạt bị cáo số tiền 40.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Viết H cho UBND và Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Giao bị cáo Nguyễn Thị L1 cho UBND và Công an phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu từ bị cáo Nguyễn Viết H số tiền dùng vào việc phạm tội là 50.000.000đ, tiền lãi theo quy định của BLDS là 5.671.233 đồng. Tổng là 55.671.233 đồng (làm tròn số: 55.671.000 đồng) để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

Truy thu từ bị cáo Nguyễn Thị L1 số tiền lãi theo quy định của BLDS là 2.821.918 đồng (làm tròn số: 2.821.000 đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Truy thu số tiền gốc của khách hàng chị Phạm Thị Tuyết N chưa trả cho các bị cáo số tiển gốc là 50.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Nguyễn Viết H phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho các khách vay là anh Mai K số tiền 19.013.699 đồng; cho anh Phạm Quốc L2 số tiền 12.156.164 đồng và trả cho chị Phạm Thị Tuyết N số tiền 30.178.082 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị L1 phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Phạm Thị Tuyết N số tiền 30.178.082 đồng.

Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn H3 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Viết H giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.

Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Viết H và Nguyễn Thị L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Viết H và chị Nguyễn Thị L1 chưa thanh toán số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời điểm chậm trả tại thời điểm thi hành.

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7B và 9 Luật THADS, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP Thanh Hoá;
  • - Văn phòng CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh TH;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 153/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger