|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày 11-12-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chữ, bà Nguyễn Thị Công Mừng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 157/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Văn D; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh năm 1992; tại huyện Â, tỉnh Hưng Yên; trú tại: thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và 02 con; anh, chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 324/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Văn D 08 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/01/2018 D chấp hành án phí;
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo Nguyễn Văn D có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lương Đình K, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Vũ Văn H2, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02 giờ 15 phút ngày 21/8/2024, Tổ an ninh trật tự cơ sở thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an xã B trong quá trình làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn B, xã B, huyện L phát hiện Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu GUIDA biển kiểm soát 98L7-8358 chở phía sau Lương Đình K, sinh năm 1999 trú tại thôn B C, xã T, huyện L theo hướng huyện L đi huyện S có biểu hiện nghi vấn ma tuý. Tại đây, D đã tự giác giao nộp 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, phía trên rãnh khoá có đường viền màu đỏ, bên trong chứa 04 (Bốn) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong các gói giấy bạc đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý, 17 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu trong đó có: 05 đoạn ống nhựa màu đỏ, 05 đoạn ống nhựa màu cam, 05 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây và 02 đoạn ống nhựa màu tím bên trong các đoạn ống nhựa chứa chất cục bột màu trắng nghị là ma tuý; 04 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu trong đó có: 02 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây, 01 đoạn màu đỏ, 01 đoạn màu trắng bên trong mỗi đoạn đều đựng các mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma tuý. Tất cả được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KT” và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn D. Quá trình bắt quả tang thu giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh dương loại có bàn phím Imei 1 357340083309525, Imei 2 357340083309533 được niêm phong “ĐT” số tiền 300.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Guida biển kiểm soát 98L-8358 theo quy định pháp luật. Tại cơ quan điều tra D khai nhận số ma tuý trên mua của Vũ Văn H2, sinh năm 1999 trú tại thôn B, xã N, huyện L.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D sinh năm 1992 trú tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Vũ Văn H2 trú tại thôn B, xã N, huyện L. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì .
Ngày 21/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trả tự do đối với Lương Đình K.
Tiến hành cho Nguyễn Văn D nhận dạng qua bản ảnh; kết quả D nhận dạng tại bản ảnh 04 là Vũ Văn H2 là người bán ma tuý cho D ngày 20/8/2024. Tiến hành đối chất Nguyễn Văn D và Vũ Văn H2 để làm rõ mâu thuẫn trong lời khai nhưng các bên bảo lưu lời khai.
Kết quả xét nghiệm ma túy: D dương tính với chất ma tuý Heroine và M; K dương tính với chất ma tuý Heroine.
Tại bản kết luận số 1843/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Trong 01 (một) phong bì ký hiệu "KT" đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc và chất cục bột màu trắng đựng trong 17 (mười bẩy) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có: 05 (năm) đoạn màu đỏ, 05 (năm) đoạn màu cam, 05 (năm) đoạn màu xanh lá cây và 02 (hai) đoạn màu tím) là ma túy, có tổng khối lượng 0,907 gam, loại Heroine (H). Các mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 04 (bốn) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có: 02 (hai) đoạn màu xanh lá cây, 01 (một) đoạn màu đỏ và 01 (một) đoạn màu trắng) là ma tuý, có tổng khối lượng 0,072 gam, loại Methamphetamine”.
Tại bản kết luận giám định số 6868/KL-KTHS ngày07/10/2024 của V Bộ C kết luận:
“ 1. Trên 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, phía trên rãnh khoá có đường viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì bằng hình dấu của Phòng K1- Công an tỉnh B và Công an xã B, tỉnh Bắc Giang cùng các họ tên và chữ ký, ký hiệu “KT” gửi giám định có bám dính tế bào người, phân tích kiểu gen(ADN) thu được kiểu gen (ADN) lẫn của nhiều người, không phân tách được kiểu gen(ADN) của từng người. Do vậy, không đủ cơ sở khoa học để xác định có bám dính chất tế bào của Vũ Văn H2 hay của người nào không.
2. Lưu kiểu gen (ADN) của Vũ Văn H2 tại V”.(BL 85-91).
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, quá trình điều tra D khai bản thân là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 20 giờ ngày 20/8/2024, D đi một mình đến ngôi nhà hoang gần nhà văn hóa tổ dân phố T1, thị trấn C, huyện L hỏi mua ma tuý heroin và ngựa của Vũ Văn H2, sinh năm 1999 trú tại thôn B, xã N, huyện L với số tiền 1.550.000 đồng, sau khi có ma tuý D cất giấu trong người và tìm nơi sử dụng, mục đích mua ma tuý trên là sử dụng cá nhân ngoài ra không có mục đích nào khác.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không tái phạm.
Bản cáo trạng số 156/CT-VKS-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xem xét về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án thông báo, tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, cụ thể: Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 21/8/2024, tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Tổ an ninh trật tự cơ sở và Công an xã B phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,979 gam (Không phẩy chín trăm bẩy mươi chín gam) ma túy (Heroine 0,907 gam; Methamphetamine 0,072 gam) với mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Do đó có đầy đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; ngày 29/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Tính đến thời điểm phạm tội Nguyễn Văn D đã chấp hành xong và đã được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; có thời gian tham gia quân đội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn D, HĐXX xét thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến Hiến pháp nước Cộng hòa X. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Khi lượng hình, HĐXX có xem xét tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức hình phạt phù hợp với bị cáo.
[5]. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn D người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm; không có tài sản, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98L7-8358 ngày 18/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển kiểm soát 98L7-8358 cho chủ sở hữu là anh Hoàng Văn S là có căn cứ.
- Đối với 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, phía trên rãnh khoá có đường viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì của V hoàn lại sau giám định; toàn bộ gói giấy bạc các mảnh nhựa nhiều màu khác nhau, chất cục bột màu trắng, mảnh viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì của V là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 300.000 đồng là số tiền chi tiêu cá nhân; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh dương loại có bàn phím Imei 1 35730083309525; Imei 2 357340083309533 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT D” không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8]. Đối với Vũ Văn H2, sinh năm 1999 trú tại thôn B, xã N, huyện L, quá trình điều tra D khai nhận mua ma tuý của Vũ Văn H2 tại ngôi nhà hoang thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L. Tiến hành làm việc, Vũ Văn H2 khai nhận tối ngày 20/8/2024 H2 không gặp D, không bán ma tuý cho D. Ngoài lời khai của D không có chứng cứ nào khác chứng minh H2 bán ma túy cho D. Do đó không có căn cứ để xử lý H2 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định pháp luật là có căn cứ.
Đối với anh Hoàng Văn S khai nhận năm 2011 mua lại xe mô tô của Hoàng Văn S1 với giá 2.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại. Sáng ngày 20/8/2024, khi D đến quán sửa xe tại gia đình, D mượn xe mô tô 98L7-8358 để làm phương tiện đi lại, không biết sử dụng vào việc phạm tội. Do đó không có căn cứ xử lý theo quy định pháp luật là có căn cứ.
Đối với Lương Đình K vào ngày 20/8/2024, K khai nhận một mình đi mua ma tuý của của một người đàn ông không quen biết (không xác định được địa chỉ cụ thể) loại Heroine với giá 100.000 đồng tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L sau đó sử dụng hết số ma tuý trên. Đến khoảng 01 giờ ngày 21/8/2024, D rủ K đi lên huyện S chơi, việc D tàng trữ ma tuý trong người K không biết, không được góp vốn mua ma tuý, D không nói cho K là D cất giấu ma tuý trong người. Do đó không có căn cứ để xử lý K theo quy định pháp luật. Về hành vi sử dụng ma tuý, ngày 05/11/2024 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lương Đình K sử dụng trái phép chất ma tuý số tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung; Các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/8/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
[2]. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, phía trên rãnh khoá có đường viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì của V hoàn lại sau giám định; toàn bộ gói giấy bạc các mảnh nhựa nhiều màu khác nhau, chất cục bột màu trắng, mảnh viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì của V.
Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh dương loại có bàn phím Imeil 35730083309525; Imei2 357340083309533 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT D”, đã qua sử dụng. Nhưng tạm giữ số tiền 300.000đ để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn).
[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.0000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.iêQuyeets
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Văn Sang |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: dSf
