TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 153/2024/HSST Ngày: 28/11/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân và bà Vũ Thị Hoà
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 151/2024/TLST - HS ngày 01/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức M (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/10/1997, tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Tổ 2, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Nga; Bị cáo chưa có vợ, chưa có con; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 35/QĐ/UBKT ngày 05/8/2024 của Uỷ ban kiểm tra thành uỷ Lào Cai; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 23/7/2024, Trần Đức M đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng nên đã một mình đi bộ đến khu vực đường Phú Thịnh, thuộc tổ 27, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai để tìm mua ma túy, tại đây Trần Đức M gặp một người nam giới không quen biết hỏi mua được 02 túi ma túy đá với giá 1.000.000 (một triệu) đồng. Sau khi mua được ma túy Trần Đức M cầm 02 túi ma túy về nơi ở cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, Trần Đức M cầm theo 02 túi ma túy mua được từ hôm trước một mình đi bộ ra khỏi nơi ở để đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Lào Cai phối hợp với Công an phường Nam Cường phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã mời bà Trịnh Thị Ngọt, thường trú: tổ 4, phường Nam Cường chứng kiến việc kiểm tra. Trước sự chứng kiến của bà Trịnh Thị Ngọt bị cáo Trần Đức M đã tự giác nhặt 02 túi nilon, màu trắng có mép miết từ dưới đất nơi vị trí Trần Đức M đang đứng lên giao nộp cho tổ công tác và khai nhận do hoảng sợ nên đã thả túi ma túy mang theo từ lòng bàn tay xuống đất tại vị trí Trần Đức M đang đứng, các cục tinh thể rắn, màu trắng là ma túy “Đá” tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Đức M 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 287/GĐMT ngày 29/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,416 (không phẩy bốn trăm mười sáu) gam các hạt tinh thể rắn, màu trắng thu giữ của Trần Đức M ngày 25/7/2024 là loại chất ma túy Methamphetamine
Tại phiên tòa bị cáo Trần Đức M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 147/CT - VKS ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố bị cáo Trần Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sư.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà,giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Đức M với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định; Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Trần Đức M để đảm bảo thi hành án. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đức M: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội ngày 23/7/2024, bị cáo mua của một người nam giới không quen biết 02 túi ma túy đá có khối lượng là 0,416 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy Trần Đức M cầm 02 túi ma túy về nơi ở cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, Trần Đức M cầm theo 02 túi ma túy mua được từ hôm trước một mình đi bộ ra khỏi nơi ở để đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Lào Cai bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng là 0,416 gam ma túy Methamphetamine.
Về nhân thân: Bị cáo Trần Đức M là người sử dụng trái phép chất ma túy, chưa có tiền án, tiền sự gì.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Đức M không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,338 (không phẩy ba trăm ba mươi tám) gam Methamphetamine còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO tạm giữ của Trần Đức M, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với người nam giới đã bán ma tuý cho bị cáo Trần Đức M ngày 23/7/2024. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Trần Đức M 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 25/7/2024
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,338 (không phẩy ba trăm ba mươi tám) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mỗi mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Trần Đức M ngày 25/7/2024 tại tổ 4 phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”
Tạm giữ của Trần Đức M 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH1923, số IMEI 1: 868114048396352, số IMEI 2: 868114048396345, có gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng, mặt màn hình bị nứt để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2024)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Đức M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Hương |
Bản án số 153/2024/HSST ngày 28/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 153/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đức M
