|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | Bà Phạm Thị Ngọc Ngà |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Vũ Thị Mỹ |
| Ông Nguyễn Công Biên |
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Trang - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố H:
Chu Đức K (tên gọi khác: L), sinh ngày 14 tháng 09 năm 1984 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Đức K1 và bà Bùi Thị H; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số 20/2021/HS-ST ngày 31/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; tạm giữ từ ngày 01/06/2024 đến ngày 07/06/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990, nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 01/6/2024, Chu Đức K (có số thuê bao 0866.334.428) nhận được cuộc gọi từ số thuê bao 0924.850.685 của Nguyễn Văn Q (sinh năm 1990, trú tại xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng), hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, K đồng ý. K đi xe mô tô biển kiểm soát 15S1-054.26 và mang theo 05 túi nilon có mép viền màu đỏ chứa ma túy đá đến khu vực trước cửa số nhà D đường T, quận K, thành phố Hải Phòng gặp và bán cho Q 01 túi nilon chứa ma tuý đá với giá 300.000 đồng. Sau đó, K đi về còn Q đi đến khu chung cư Q thuộc phường L, quận K, thành phố Hải Phòng để sử dụng. Khi Q đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an phường L phát hiện, kiểm tra thu giữ tại nền đất vị trí Q ngồi 01 chai nhựa màu trắng, trên thân chai có chữ Number 1, có nắp ren xoáy đậy màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài khoảng 30cm, một lỗ gắn 01 tẩu thủy tinh (mẫu số 01) dài khoảng 17cm, bên trong phần hình cầu và thân tẩu thủy tinh có bám dính tạp chất màu nâu đen và 01 túi nilon (kích thước 02x1,5cm) có mép viền màu đỏ bên trong bám dính tinh thể màu trắng (mẫu số 02). Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ của Q 01 điện thoại NOKIA lắp sim số thuê bao 0924.850.685 và 01 bật lửa. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi K còn cất giữ 04 túi nilon chứa ma túy đá trên trong túi áo khoác bên phải phía trước của K và đi đến khu vực đường P, phường L, quận K, Hải Phòng thì bị cơ quan Công an phát hiện kiểm tra. Thấy thế, K lấy 03 túi nilon chứa ma túy đá cất giấu trong túi áo khoác, ném xuống đường. Quá trình kiểm tra, phát hiện K còn cất giấu 01 túi nilon chứa ma túy đá trong túi áo khoác bên phải phía trước. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tại túi áo khoác bên phải phía trước K đang mặc 01 túi nilon có mép viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 03); thu giữ 03 túi nilon có mép viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 04) tại nền đường gần vị trí K đứng. Ngoài ra, còn thu giữ 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 9,5cm một đầu được vót nhọn tại túi áo khoác bên trái phía trước K đang mặc, thu giữ trong cốp xe 29 túi nilon có mép viền màu đỏ bên trong đều không chứa gì, 01 xe mô tô biển kiểm soát 15S1-054.26, 01 điện thoại Iphone bên trong lắp sim số thuê bao 0866.334.428 và số tiền 1.778.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận:
- “- Chất màu trắng bám dính trong tẩu thủy tinh của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính.
- -Tinh thể màu trắng bám dính trong vỏ túi nilon của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính.
- - Tinh thể màu trắng của mẫu số 03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,17gam, loại: Methamphetamine.
- - Tinh thể màu trắng của mẫu số 04 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,57gam, loại: Methamphetamine”.
Xét nghiệm chất ma túy, Q dương tính với test thử chất ma túy M và M1, K âm tính với test thử chất ma túy.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Đức K ở tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.
Tiến hành thu giữ điện tín hai số thuê bao 0866.334.428 và 0924.850.685 xác định lịch sử cuộc gọi của 02 số thuê bao trên phù hợp với nội dung của vụ án.
Quá trình điều tra, Chu Đức K và Nguyễn Văn Q khai nhận phù hợp nội dung trên. Ngoài ra, Chu Đức K còn khai 04 túi nilon có mép viền màu đỏ bên trong chứa ma tuý đá bị thu giữ là của K cất giữ với mục đích sử dụng và bán. Xe mô tô biển kiểm soát 15S1-054.26 là tài sản của bạn gái Khương tên Bùi Thị Thanh H1 (sinh năm 1984, trú tại số F H, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng). H1 không biết K sử dụng xe mô tô vào việc mua bán ma túy. Điện thoại Iphone lắp sim số thuê bao 0866.334.428 là của K, K dùng để liên lạc bán ma tuý cho Q. 29 túi nilon có mép viền màu đỏ là của K cất giấu với mục đích chia nhỏ ma tuý để bán. Số tiền 1.778.000 đồng thu giữ, trong đó có 300.000 đồng là tiền K bán ma tuý cho Q, số tiền còn lại do K lao động mà có. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, do K mua của một người phụ nữ không quen biết ở khu vực đường tàu Trần Nguyên H2 vào sáng ngày 01/6/2024 với giá 1.000.000 đồng. Người phụ nữ bán cho K 05 túi nilon có mép viền màu đỏ chứa ma tuý đá, trong đó K đã bán 01 túi cho Q, còn 04 túi bị Công an thu giữ như đã nêu trên. Việc K bán ma túy cho Q, K được hưởng lợi 100.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 157/CT-VKSKA ngày 07 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Chu Đức K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Đức K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, và trình bày Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Chu Đức K như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Chu Đức K từ: 42 - 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền mức 5.000.000đ – 10.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy:
- + Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 655MT/PC09 Phòng P;
- + Tẩu thuỷ tinh mẫu số 01 và vỏ túi nilon của mẫu số 02 sau khi xử lý giám định được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 655MT-A/PC09 Phòng P;
- + 01 chai nhựa màu trắng, trên thân chai có chữ Number 1, có nắp ren xoáy đậy màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài khoảng 30cm;
- + 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 9,5cm một đầu được vót nhọn;
- + 29 túi nilon kích thước 2x2cm có mép viền màu đỏ bên trong đều không chứa gì;
- + 01 bật lửa
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại Nokia vỏ màu xanh đã qua sử dụng, có số seri 1: 353407094632718, số seri 2: 353407099632713 bên trong lắp sim số thuê bao 0924850685.
- + 01 điện thoại nhãn hiệu iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI: 359308700183407 bên trong lắp sim số thuê bao 0866334428.
- - Đối với số tiền 1.778.000đ: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 300.000đ. Trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo số tiền 1.478.000đ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Văn Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 01/6/2024, Chu Đức K đã thực hiện hành vi cất giữ 05 túi nilon chứa ma túy đá với mục đích để sử dụng và bán (trong đó, K đã bán 01 túi nilon chứa ma tuý đá cho Nguyễn Văn Q, với giá 300.000 đồng). Đến 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi Chu Đức K còn đang cất giữ 04 túi nilon chứa ma túy đá còn lại (khối lượng là 0,74 gam ma túy loại Methamphetamine) thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực xóm C, đường P, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Chu Đức K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[4] Bị cáo Chu Đức K đã thực hiện hành vi cất giữ 05 túi nilon chứa ma túy đá với mục đích để sử dụng và bán (trong đó, K đã bán 01 túi nilon chứa ma tuý đá cho Nguyễn Văn Q, với giá 300.000 đồng). Đến 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi Chu Đức K còn đang cất giữ 04 túi nilon chứa ma túy đá còn lại (khối lượng 0,74 gam ma túy loại Methamphetamine) thì bị phát hiện, bắt quả tang nên bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Về nhân thân: Bị cáo K không có tiền sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 20/2021/HS-ST ngày 31/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 09/06/2021 và đã nộp 300.000đ tịch thu sung quỹ nhà nước ngày 28/6/2021. Ngày 28/02/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Căn cứ vào Điều 70, Điều 73 Bộ luật Hình sự tiền án trên của bị cáo chưa được xoá án tích, nhưng lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này phạm vào tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[9] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo K và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[10] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo mức 5.000.000đ.
[11] Về tiền thu lợi bất chính: Bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 300.000đ, sẽ được đối trừ với số tiền đã thu giữ của bị cáo.
- Về vật chứng:
[12] Cơ quan công an đã thu giữ:
- - Số tiền 1.778.000đ theo Uỷ nhiệm Chi của Công an quận K.
- - Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 655MT/PC09 Phòng P;
- - Tẩu thuỷ tinh mẫu số 01 và vỏ túi nilon của mẫu số 02 sau khi xử lý giám định được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 655MT-A/PC09 Phòng P;
- - 01 chai nhựa màu trắng, trên thân chai có chữ Number 1, có nắp ren xoáy đậy màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài khoảng 30cm.
- - 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 9,5cm một đầu được vót nhọn.
- - 29 túi nilon kích thước 2x2cm có mép viền màu đỏ bên trong đều không chứa gì.
- - 01 bật lửa.
- - 01 điện thoại Nokia vỏ màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0924850685.
- - 01 điện thoại nhãn hiệu iphone vỏ màu xanh bên trong lắp sim số thuê bao 0866334428.
Hội đồng xét xử xét:
- - Đối với Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 655MT/PC09 Phòng P; Tẩu thuỷ tinh mẫu số 01 và vỏ túi nilon của mẫu số 02 sau khi xử lý giám định được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 655MT-A/PC09 Phòng P; 01 chai nhựa màu trắng, trên thân chai có chữ Number 1, có nắp ren xoáy đậy màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài khoảng 30cm; 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 9,5cm một đầu được vót nhọn; 29 túi nilon kích thước 2x2cm có mép viền màu đỏ bên trong đều không chứa gì; 01 bật lửa là vật cấm lưu hành, và những vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 điện thoại Nokia vỏ màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0924850685 của Nguyễn Văn Q và 01 điện thoại nhãn hiệu iphone vỏ màu xanh bên trong lắp sim số thuê bao 0866334428 của bị cáo K sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với Số tiền 1.778.000đ: Trong đó có 300.000đ là tiền bị cáo K bán ma tuý cho Q, đây là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại 1.478.000đ là tiền của bị cáo lao động mà có cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí:
[13] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[14] Về các nội dung khác:
Đối với phụ nữ bán ma túy cho K, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn Q, Công an quận K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 15S1-054.26: Quá trình điều tra xác định, người đứng tên đăng ký xe là chị Bùi Thị Thanh H1. Chị H1 cho K mượn chiếc xe trên làm phương tiện đi lại và không biết việc K dùng chiếc xe này vào việc mua bán ma túy. Giám định số khung số máy xác định là số nguyên thủy, tiến hành tra cứu xác định xe mô tô không nằm trong hệ thống kho xe tang vật. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị H1 quản lý, sử dụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Chu Đức K (tên gọi khác: L) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Chu Đức K (tên gọi khác: L): 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2024.
Phạt tiền bị cáo: 5.000.000đ.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy:
- + Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 655MT/PC09 Phòng P;
- + Tẩu thuỷ tinh mẫu số 01 và vỏ túi nilon của mẫu số 02 sau khi xử lý giám định được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 655MT-A/PC09 Phòng P;
- + 01 chai nhựa màu trắng, trên thân chai có chữ Number 1, có nắp ren xoáy đậy màu trắng được đục hai lỗ, một lỗ gắn 01 đoạn ống hút nhựa dài khoảng 30cm;
- + 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 9,5cm một đầu được vót nhọn;
- + 29 túi nilon kích thước 2x2cm có mép viền màu đỏ bên trong đều không chứa gì;
- + 01 bật lửa;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại Nokia vỏ màu xanh đã qua sử dụng, có số seri 1: 353407094632718, số seri 2: 353407099632713 bên trong lắp sim số thuê bao 0924850685.
- + 01 điện thoại nhãn hiệu iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI: 359308700183407 bên trong lắp sim số thuê bao 0866334428.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
- Đối với số tiền 1.778.000đ theo Uỷ nhiệm chi ngày 11/11/2024 của đơn vị trả tiền là Công an quận K với đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 300.000đ. Trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo số tiền 1.478.000đ.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
