Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HS-ST

Ngày 21 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Duyên

Ông Đỗ Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 145/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn T, sinh ngày 01 tháng 03 năm 1977 tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi ở: Thôn L, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Trương Thị G; có vợ là Hoàng Thị H và có 04 con, con lớn sinh năm 1999, và con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11/06/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/06/2024. Có mặt.
  2. Nguyễn Anh T1, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1984 tại Phú Thọ; ĐKHKTT và nơi ở: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị B; có vợ là Lê Thị N và có 03 con, con lớn sinh năm 2008 và con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11/06/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/06/2024. Có mặt.
  3. Nguyễn Ngọc T3, sinh ngày 19 tháng 05 năm 1988 tại Phú Thọ; ĐKHKTT và nơi ở: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Trí H1 và bà Vũ Thị L; có vợ là Lê Thị Minh H2; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11/06/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/06/2024. Có mặt.
  4. Cao Văn D, sinh ngày 16 tháng 06 năm 1975 tại Quảng Bình; ĐKHKTT và nơi ở: thôn M, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 2/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Minh T4 và bà Cao Thị H3; có vợ là Hoàng Thị P và có 03 con, con lớn sinh năm 2000 và con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11/06/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/06/2024. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, tại tàu HN2360 đang neo đậu trên tuyến sông B, T, T4, T3, D rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “lốc” được thua bằng tiền, các bị can lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân (không xác định được của ai) có sẵn trên tàu để đánh bạc. Về hình thức đánh bạc được quy ước như sau: các bị can sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia cho mỗi người 10 quân bài, các quân bài theo thứ tự từ nhỏ đến lớn là 3, 4... K, A, 2, không tính chất của các quân bài. Người chơi lần lượt đánh theo vòng ngược chiều kim đồng hồ, người sau muốn đánh thì phải đánh quân bài hoặc bộ bài lớn hơn người đánh trước. Người chơi có thể đánh “lẻ” (một quân bài), đánh “đôi” (hai quân bài cùng thứ tự), đánh “bộ” (ba, bốn quân bài cùng thứ tự hoặc các quân bài có thứ tự liền nhau). Quá trình chơi, nếu ai đánh hết bài ở trên tay trước thì người đó thắng và ván bài kết thúc; những người còn lại bài trên tay thì phải trả cho người thắng tương ứng với số tiền là 10.000 đồng/01 quân bài. Khi lên bài, nếu thấy bài của mình đánh ra mà không có ai chặn được thì người chơi có thể “báo lốc”, nếu “báo lốc” thành công thì người đó thắng và những người chơi còn lại phải trả cho người thắng là 150.000 đồng/01 người. Trường hợp đã kết thúc ván bài nhưng người chơi vẫn chưa đánh được quân bài nào trên tay gọi là “cháy”, người có bài “cháy” phải trả cho người thắng số tiền là 100.000 đồng. Sau khi kết thúc ván bài, người thắng ván bài trước được quyền chia bài và đánh đầu tiên nếu không có người “báo lốc” và tiếp tục quy trình chơi tương tự như trên.

Cả nhóm đánh bạc đến 10 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Đ, Công an quận H bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân (đã qua sử dụng) và số tiền 5.710.000 đồng (trong đó: Trần Văn T có 1.820.000 đồng, Nguyễn Anh T1 có 1.690.000 đồng, Nguyễn Ngọc T3 có 1.000.000 đồng, Cao Văn D có 1.200.000 đồng); đồng thời thu giữ số tiền 4.500.000 đồng của T1 ở túi quần phía sau bên phải.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Về số tiền sử dụng để đánh bạc: Trần Văn T khai trước khi chơi có 1.700.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, thắng khoảng 120.000 đồng, khi bị bắt có 1.820.000 đồng; Nguyễn Anh T1 khai trước khi chơi có 1.610.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, thắng khoảng 80.000 đồng, khi bị bắt có 1.690.000 đồng, đối với số tiền 4.500.000 đồng ở túi quần phía sau bên phải, T1 không sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Ngọc T3 trước khi chơi có 1.200.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, thua khoảng 200.000 đồng, khi bị bắt còn 1.000.000 đồng; Cao Văn D trước khi chơi có 1.200.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, không thắng không thua, khi bị bắt có 1.200.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 148/CT-VKSHA ngày 18/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị can: Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự:

  • + Xử phạt: Trần Văn T với số tiền từ 27.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội đánh bạc.

  • + Xử phạt: Nguyễn Anh T1 với số tiền từ 27.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội đánh bạc.

  • + Xử phạt: Nguyễn Ngọc T3 với số tiền từ 25.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng về tội đánh bạc.

  • + Xử phạt: Cao Văn D với số tiền từ 25.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng về tội đánh bạc.

Huỷ bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3 và Cao Văn D.

  • - Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.710.000 đồng (năm triệu bảy trăm mười nghìn đồng) là tiền đã dùng vào việc phạm tội.

    • Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T1 số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền không liên quan đến việc phạm tội.

  • - Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng từ 09 giờ 30 phút đến 10 giờ ngày 11/06/2024, tại tàu HN2360 đang neo đậu trên tuyến sông B thuộc địa phận phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “lốc” được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 5.710.000 (năm triệu bảy trăm mười nghìn) đồng. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo đồng phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét hành vi đánh bạc của các bị cáo là hành vi trái pháp luật, đã xâm phạm trật tự công cộng, nên cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo.

· Về vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[4] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm, nhưng mang tính giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, mà cùng nhau thực hiện tội phạm.

[5] Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

- Về hình phạt:

[8] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Xong xét hành vi phạm tội của các bị cáo là giản đơn, số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn để làm căn cứ đưa ra mức hình phạt đối với các bị cáo. Nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với cả 04 bị cáo, gồm: Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D đều bị phạt tiền theo Điều 35 Bộ luật hình sự.

Về số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc có cao thấp khác nhau nên cần đánh giá xem xét để lượng hình; cụ thể: Trần Văn T sử dụng 1.700.000 đồng, khi bị bắt có 1.820.000 đồng; Nguyễn Anh T1 sử dụng 1.610.000 đồng, khi bị bắt có 1.690.000 đồng, đối với số tiền 4.500.000 đồng ở túi quần phía sau bên phải, T1 không sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Ngọc T3 sử dụng 1.200.000 đồng, khi bị bắt còn 1.000.000 đồng; Cao Văn D sử dụng 1.200.000 đồng, khi bị bắt có 1.200.000 đồng.

- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • + Đối với số tiền 5.710.000 đồng (năm triệu bảy trăm mười nghìn đồng), là tiền dùng vào việc đánh bạc, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

  • + Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

  • + Đối với số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Anh T1 không dùng vào việc đánh bạc, nên trả lại cho bị cáo.

- Về án phí:

[10] Các bị cáo đều phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, các bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự:

  • + Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D phạm tội “Đánh bạc”;

  • Xử phạt: Trần Văn T với số tiền 27.000.000 đồng (hai mươi bẩy triệu đồng) về tội đánh bạc.

  • Xử phạt: Nguyễn Anh T1 với số tiền 27.000.000 đồng (hai mươi bẩy triệu đồng) về tội đánh bạc.

  • Xử phạt: Nguyễn Ngọc T3 với số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) về tội đánh bạc.

  • Xử phạt: Cao Văn D với số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) về tội đánh bạc.

Huỷ bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.710.000 đồng (năm triệu bảy trăm mười nghìn đồng) là tiền đã dùng vào việc phạm tội.

  • Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T1 số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền không liên quan đến việc phạm tội.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 148/QĐ-VKS ngày 18/10/2024 và biên lai thu tiền số 0004834, ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Anh T1, Nguyễn Ngọc T3, Cao Văn D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Công an quận Hải An;
  • - PV06 - Công an TP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 153/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc Trần Văn Tiến và đồng bọn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger