Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HSST

Ngày: 18 / 11 / 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga và bà Vũ Thị Hương

Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Đông H, giới tính: Nam; sinh ngày 16/5/1992, tại Hoà Bình; nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nơi ở: Xóm V, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Hoàng Đông L và mẹ là Trần Thị T; có vợ là Nguyễn Thu H1 và 02 con (lớn 04 tuổi, nhỏ 01 tuổi).

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 01/4/2024, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  2. Nguyễn Thị Thu H2, giới tính: Nữ; sinh ngày 01/5/1992, tại Hoà Bình; nơi cư trú: Xóm T, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Nguyễn Văn C và mẹ là Đinh Thị S; có chồng là Nguyễn Hùng S1 và 03 con (lớn nhất 12 tuổi, nhỏ nhất 03 tuổi).

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  3. Đinh Thị T1, giới tính: Nữ; sinh ngày 06/7/1993, tại Hoà Bình; nơi cư trú: Xóm V, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Đinh Văn V và mẹ là Đinh Thị S2; có chồng là Trương Đức T2 và 02 con (lớn 10 tuổi, nhỏ 07 tuổi).

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 01/4/2024, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Văn T3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Xóm T, xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Váng mặt.
  2. Trần Văn T4, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm R, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Đông H có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Thị Thu H2, Đinh Thị T1 và Trần Văn T4 nên đã bàn bạc, thoả thuận với 3 người này về việc nhận, chuyển các số lô, số đề trái với quy định của nhà nước thông qua tin nhắn và ứng dụng zalo, sau đó H sẽ chuyển cho người khác để hưởng lợi; với số đề, H nhận 75% số tiền chuyển; đối với số lô xiên, H nhận 7.500 đồng/1 điểm; đối với số lô 27 giải, H nhận 22.000 đồng/1 điểm. Căn cứ vào kết qủa xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, đối chiếu với bảng tổng hợp số lô, số đề, H sẽ thanh toán cho các số trúng giải như sau:

  • Số đề 2 số (tính theo 2 số đầu hoặc 2 số cuối của giải đặc biệt): thanh toán bằng 70 lần số tiền mua số trúng thưởng.
  • Số đề 3 số (tính theo 3 số cuối của giải đặc biệt): thanh toán bằng 400 lần số tiền mua số trúng thưởng.
  • Số lô 2 số (tính theo 2 cuối của tất cả các giải từ đặc biệt đến giải bảy): thanh toán bằng 80.000 đồng/ 1 điểm đối với số trúng thưởng.
  • Số lô xiên thanh toán theo hình thức: xiên 2 được thanh toán 100.000 đồng/1 điểm; xiên 3 được thanh toán 400.000 đồng/1 điểm; xiên 4 được thanh toán 1.000.000 đồng/1 điểm.

Ngày 24/3/2024, Hoàng Đông H sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus đăng nhập vào tài khoản zalo có tên “Lãng Tử” để nhận các số lô, số đề trái pháp luật của các đối tượng, cụ thể:

* Nhận của Nguyễn Thị Thu H2:

Nguyễn Thị Thu H2 không phải là thành viên, cộng tác viên, đại lý bán vé số của Công ty TNHH MTV X, ngày 24/3/2024 H2 bày bàn bán số lô, số đề cho khách vãng lai tại khu vực xóm T, xã Q, thành phố H. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H2 tổng hợp tất cả các số lô, số đề đã bán được trong ngày vào một tờ giấy, sử dụng điện thoại hiệu OPPO A94 đăng nhập vào ứng dụng zalo bằng tài khoản “Nguyễn Thu H2” chụp ảnh bảng tổng hợp số lô, số đề trên và gửi cho tài khoản zalo “Lãng Tử” của H; bao gồm: các số lô, số lô xiên 2, số lô xiên 3, số đề 2 số, số đề 3 số. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề trái quy định của nhà nước H nhận của H2 ngày 24/3/2024 là 17.414.000 đồng.

Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 24/3/2024, tổng số tiền trúng thưởng H phải trả cho H2 là 9.200.000 đồng.

Hành vi của H và H2 được phát hiện sau giờ mở thưởng, do đó số tiền các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 26.614.000 đồng.

* Nhận của Đinh Thị T1:

Đinh Thị T1 không phải là thành viên, cộng tác viên, đại lý bán vé số của Công ty TNHH MTV X; ngày 24/3/2024, T1 bày bàn bán số lô, số đề cho khách vãng lai tại khu vực xóm V, xã T, thành phố H. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T1 tổng hợp tất cả các số lô, số đề đã bán được trong ngày vào một tờ giấy, sử dụng điện thoại hiệu Iphone 6 Plus đăng nhập vào ứng dụng zalo bằng tài khoản “Đinh Thị T1” chụp ảnh bảng tổng hợp số lô, số đề trên và gửi cho tài khoản zalo “Lãng Tử” của H; bao gồm: các số lô, số lô xiên 2, số lô xiên 3, số đề 2 số, số đề 3 số. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề trái quy định của nhà nước H nhận của T1 ngày 24/3/2024 là 5.935.000 đồng.

Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 24/3/2024, tổng số tiền trúng thưởng H phải trả cho T1 là 2.400.000 đồng.

Hành vi của H và T1 được phát hiện sau giờ mở thưởng, do đó số tiền các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 8.335.000 đồng.

* Nhận của Trần Văn T4:

Trần Văn T4 không phải là thành viên, cộng tác viên, đại lý bán vé số của Công ty TNHH MTV X; ngày 24/3/2024, T4 sử dụng điện thoại hiệu OPPO A94 đăng nhập vào tài khoản zalo “Tran Tung” để soạn các tin nhắn nội dung là các số lô, số đề T4 muốn mua gửi đến tài khoản zalo “Lãng Tử” của H; bao gồm: các số lô, số lô xiên 2, số lô xiên 3, số đề 2 số, số đề 3 số. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề trái quy định của nhà nước H nhận của T4 ngày 24/3/2024 là 2.618.000 đồng.

Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng ngày 24/3/2024, tổng số tiền trúng thưởng H phải trả cho T4 là 2.000.000 đồng.

Hành vi của H và T4 được phát hiện sau giờ mở thưởng, do đó số tiền bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự là 4.618.000 đồng.

Hoàng Đông H khai nhận, sau khi nhận các số lô, số đề từ H2, T1, T4 chuyển đến, H sẽ chuyển cho Lê Văn T3 với giá: đối với số đề bằng 73% số tiền nhận chuyển, H hưởng lời 2%; số lô 27 giải chuyển với giá 21.800 đồng/1 điểm, H hưởng lời 200 đồng/1 điểm; đối với lô xiên, H chuyển 7.300 đồng/1 điểm, H hưởng lời 200 đồng/1 điểm.

Cáo trạng số 149/CT-VKSTP ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Hoàng Đông H, Nguyễn Thị Thu H2 về tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 1 điều 322 của Bộ luật hình sự, truy tố Đinh Thị T1 về tội Đánh bạc theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 17, điều 58, điều 38, điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt Hoàng Đông H từ 15 đến 18 tháng tù, Nguyễn Thị Thu H2 từ 12 đến 15 tháng tù cùng về tội tổ chức đánh bạc; áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt Đinh Thị T1 từ 06 đến 09 tháng tù về tội đánh bạc; xem xét cho 3 bị cáo được hưởng án treo; áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo và Trần Văn T4 thu lời bất chính; tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của Hoàng Đông H, 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO A94 thu của Đinh Thị T1; 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus thu của Nguyễn Thị Thu H2.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện liên quan đến hành vi của bị cáo bị truy cứu trách nhiệm trong vụ án này đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị cáo đã thực hiện:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận ngày 24/3/2024 đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, vật chứng thu được cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội

Các Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc đánh bạc, đứng ra làm trung gian để người khác đánh bạc nhằm hưởng tiền hoa hồng bằng hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền trái quy định của nhà nước là vi phạm pháp luật nhưng do coi thường pháp luật và vì mục đích vụ lợi nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của bị cáo H và H2 đủ căn cứ để xét xử về tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 322 của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo T1 đủ căn cứ xét xử về tội đánh bạc theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo H đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi của mình; có thời gian phục vụ trong Q; đã khắc phục một phần số tiền thu lời bất chính; Bị cáo H2 đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi của mình; đã khắc phục số tiền thu lời bất chính; bị cáo T1 đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục số tiền thu lời bất chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và nhân thân của các bị cáo cần có hình phạt tù thoả đáng để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cũng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác phòng chống tội phạm chung.

[4] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng

  • - Số tiền 17.414.000 đồng bị cáo H2 bán số lô, số đề cho các đối tượng khách vãng lai chưa giao cho H cần truy thu của bị cáo H2 để sung quỹ nhà nước.
  • - Số tiền 5.935.000 đồng bị cáo T1 bán số lô, số đề cho các đối tượng khách vãng lai chưa giao cho H cần truy thu của bị cáo T1 để sung quỹ nhà nước.
  • - Số tiền 2.618.000 đồng T4 bán số lô, số đề cho các đối tượng khách vãng lai chưa giao cho H cần truy thu của Trần Văn T4 để sung quỹ nhà nước.
  • - Số tiền trúng thưởng bị cáo Hoàng Đông H phải thanh toán cho Nguyễn Thị Thu H2 9.200.000 đồng, cho Đinh Thị T1 2.400.000 đồng, cho T4 2.000.000 đồng, tổng cộng 13.600.000 đồng cần truy thu của bị cáo H để sung quỹ nhà nước.
  • - Đối với 3 chiếc điện thoại là tài sản của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
  • - Đối với Trần Văn T4 tham gia đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề của Hoàng Đông H, tuy nhiên số tiền chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc, cơ quan công an đã xử phạt hành chính do đó Toà không xử lý trong vụ án này.
  • - Đối với Lê Văn T3 là người bị cáo H khai sẽ nhận chuyển bảng số lô, số đề của H, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không làm rõ được và không đề nghị xử lý trong vụ án này nên Toà không có căn cứ xử lý đối với Lê Văn T3.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: điểm c khoản 1 điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 17, điều 58, điều 38, điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Hoàng Đông H, Nguyễn Thị Thu H2 phạm tội Tổ chức đánh bạc

Xử phạt: Hoàng Đông H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H2 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Căn cứ vào: khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38, điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Đinh Thị T1 phạm tội Đánh bạc

Xử phạt: Đinh Thị T1 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Hoàng Đông H, Nguyễn Thị Thu H2, Đinh Thị T1 cho Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo H, H2, T1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

* Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 13.600.000 đồng của Hoàng Đông H, 17.414.000 đồng của Nguyễn Thị Thu H2, 5.935.000 đồng của Đinh Thị T1.
  • - Xác nhận Hoàng Đông H đã nộp 10.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình (theo biên lai: số 0000211 ngày 28/10/2024), còn phải nộp tiếp 3.600.000 đồng.
  • - Xác nhận Nguyễn Thị Thu H2, Đinh Thị T1 đã nộp đủ số tiền trên tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình (theo các biên lai số 0000215 ngày 04/11/2024; số 0000216 ngày 14/11/2024 và số 0000217 ngày 14/11/2024).
  • - Truy thu 2.618.000 đồng của Trần Văn T4 để sung quỹ nhà nước.
  • - Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của Hoàng Đông H; 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus thu của Nguyễn Thị Thu H2 và 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO A94 thu giữ của Đinh Thị T1.
  • (các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hòa Bình có đặc điểm theo biên bản giao nhận số 20BB/2025 ngày 15/11/2024).
  • - Về án phí: Mỗi Bị cáo Hoàng Đông H, Nguyễn Thị Thu H2 và Đinh Thị T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - Công an thành phố HB;
  • - CQ THA HS - CA TPHB;
  • - Chi cục THA DS TPHB;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - UBND xã Quang Tiến;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nghiêm Hoài Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 153/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger