|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 153/2024/HS-PT Ngày 28 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu và ông Nguyễn Phước Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 238/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXXPT-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Chí H; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Lê Văn T, sinh ngày 12/11/1995, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; trình độ học vấn: lớp 9/12; con ông Lê Văn K (đã chết) và bà Ngô Thị H1; có vợ Võ Thị Hồng C, có 01 con (sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến nay; bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh A, có mặt.
- Nguyễn Chí H, sinh ngày 01/01/1995, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; trình độ học vấn: lớp 9/12; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Trần Thị Thanh T1; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 03/4/2024 cho đến nay; bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh A, có mặt.
Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Chí H2, sinh ngày 16/6/2003 tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị H1. Do không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 02/4/2024, tại khu vực tổ A, ấp H, xã H, huyện P, Tổ Công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy phối hợp Công an xã H kiểm tra phát hiện Nguyễn Chí H2 đang điều khiển xe mô tô biển số 67K1 - 064.76 hướng từ xã H về xã P, cất giấu trong túi quần bên trái, phía trước 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, bên trong bao thuốc có 01 bọc nylon trong suốt được hàn kín nghi là ma túy đá và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei, màu nâu. Qua làm việc, H2 khai nhận bọc nylon trong suốt được hàn kín có chứa chất tinh thể là ma túy đá do H2 mua của Lê Văn T để sử dụng, lực lượng Công an phát hiện bắt người phạm tội quả tang đối với H2.
Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Văn T và Nguyễn Chí H, đồng thời khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Lê Văn T, phát hiện thu giữ bên trong bóp da màu trắng 01 bọc nylon trong suốt, có rãnh khoá viền màu trắng chứa 13 bọc nylon trong suốt được hàn kín có chứa tinh thể nghi là ma tuý đá và nhiều dụng cụ có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Qua làm việc T, H và H2 khai nhận:
Ngày 31/3/2024, T bàn bạc với H và H2 mua ma túy về cùng nhau sử dụng và bán lại cho người nghiện. Sau khi thống nhất, T trực tiếp liên hệ với người nam tên L (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) mua 01 bọc ma túy đá, giá 1.400.000 đồng và hẹn giao ma túy tại nhà T. Khoảng 30 phút sau, có người nam (không rõ đặc điểm) chạy xe mô tô đem bọc ma túy đến nhà đưa cho T rồi lấy tiền đi về. Khi có ma túy, T đưa bọc ma túy cho H trực tiếp phân ra được 17 bọc nhỏ, T kêu H2 trực tiếp đi giao ma túy bán cho người nghiện tổng cộng 03 lần (Nguyễn Thành D mua 02 lần, giá 500.000 đồng; người thanh niên tên R mua 01 lần, giá 500.000 đồng) thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A xác định: 14 bọc nylon gửi đến giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 1,7194g.
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng tháng 7/2023, sau khi làm thuê tại tỉnh Đồng Nai về quê sinh sống, T gặp lại H (bạn học chung cấp II với T), cả hai thường xuyên liên lạc và sử dụng ma túy chung với nhau. Đến tháng 3/2024, T và H được L giới thiệu có nguồn ma túy giá rẻ để mua bán lại kiếm lời nên cả hai bàn bạc cùng thống nhất mua ma túy của L về phân lẻ bán cho các con nghiện kiếm lời, mua ma túy sử dụng. T có nhiệm vụ liên lạc với L mua ma túy và liên lạc với những con nghiện để bán ma túy. H có nhiệm vụ mua dụng cụ, đồ vật cần thiết để phân chia ma túy và trực tiếp phân lẻ ma túy. Sau đó, H giới thiệu H2 (anh họ của H) cho T biết, từ đó H2 biết T và H đang hoạt động mua bán ma túy nên tự nguyện tham gia giao ma túy cho các con nghiện theo yêu cầu của T và H để được cho ma túy sử dụng.
3
Khoảng 18 giờ ngày 31/3/2024, L liên lạc trao đổi việc bán ma túy cho T, T mua với số tiền 1.400.000 đồng, L hẹn đem ma túy đến nhà giao cho T. Khoảng 30 phút sau, có người thanh niên lạ mặt điều khiển xe mô tô (không nhớ rõ biển kiểm soát) đến nhà đưa cho T 01 bọc ma túy, T trả tiền và đưa bọc ma túy cho H cất giữ và phân lẻ ra để bán lại kiếm lời, số ma túy còn lại H không phân ra mà để sử dụng cùng với T. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T đi vào phòng ở gặp H và H2 đang ngồi trong phòng nên kêu H lấy ma túy ra để cả ba cùng sử dụng, H lấy ma túy đá bỏ vào nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) rồi cả ba cùng nhau sử dụng, khi sử dụng được khoảng 10 phút thì T bỏ đi ra trước nhà, còn H và H2 tiếp tục sử dụng ma túy.
Đến khoảng 22 giờ ngày 01/4/2024, T điện thoại cho H rủ xuống nhà để cùng sử dụng ma túy. Khi sử dụng được khoảng 05 phút, thấy H2 đến nên T rủ H2 cùng sử dụng ma túy tại phòng ở bên trong nhà T. Cả ba sử dụng ma túy được khoảng 20 phút thì T đi ra khỏi phòng, còn H và H2 tiếp tục sử dụng ma túy.
Khoảng 14 giờ ngày 02/4/2024, T nhận được tin nhắn của D hỏi mua ma túy đá với số tiền 200.000 đồng nên lấy bọc ma túy đá đưa H2 đem giao cho D. Khi nhận ma túy D không trả tiền mà thiếu lại. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H2 nói với T “Anh ơi cứu em một cái” (tức là H2 hỏi mua ma túy sử dụng riêng), T đồng ý nên đưa cho H2 01 bọc ma túy đá và nói “Mầy lấy đi chơi đi, chứ anh em không à tiền bạc gì” (tức là T muốn cho ma túy để H2 sử dụng riêng không lấy tiền của H2), H2 bỏ bọc ma túy vào túi quần và đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H và H2 đến nhà T nên cả ba vào phòng ở của T cùng sử dụng ma túy. Khoảng 30 phút sau, D nhắn tin mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, T kêu H lấy ma túy đưa cho H2 đem giao cho D, khi H2 giao ma túy thì D không nhận và yêu cầu đổi lại nên H2 đem bọc ma túy về. T kêu H làm lại bao bì bọc ma túy mới (cách thức cắt bọc ma túy ra đổ vào bọc mới hàn kín lại) đưa H2 đem giao cho D. Tổng cộng T bán ma túy cho D 02 lần, Dư nợ T số tiền 500.000 đồng.
Khi H2 giao ma túy cho D xong quay về nhà T được khoảng 10 phút thì T nhận được điện thoại của R hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá nhưng nợ lại. T đồng ý bán nên kêu H làm bọc ma túy giá 500.000 đồng đưa cho H2 đem xuống khu vực cống P giao cho R. Khi giao ma túy xong, H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67K1-064.76 về đến trước cửa nhà T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Tại Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
4
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù;
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H2 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là 08 (tám) năm tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/8/2024, bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Chí H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Chí H2 không kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo T, H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
- + Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: bị cáo kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Chí H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Xử phạt bị cáo T: 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là: 15 năm tù.
Xử phạt bị cáo H: 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là: 15 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
5
[1] Về thủ tục tố tụng: các bị cáo T và H kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung:
Lời khai của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Chí H tại phiên tòa phúc thẩm thừa nhận đã cùng với bị cáo Nguyễn Chí H2 nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Bị cáo T nhiều lần cung cấp ma túy, chuẩn bị địa điểm; bị cáo H nhiều lần chuẩn bị, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho T, H và H2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, kết quả điều tra, tang vật thu giữ, Kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, có đủ căn cứ xác định: Các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Chí H cùng với Nguyễn Chí H2 thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần, trong đó, bán ma túy cho D 02 lần vào ngày 02/4/2024, tổng số tiền 500.000 đồng; bán ma túy cho R 01 lần vào ngày 02/4/2024, số tiền 500.000 đồng. Ngoài ra, T và H cùng nhau tổ chức cho H2 sử dụng trái phép chất ma túy với T và H vào các ngày 31/3/2024, 01/4/2024 và 02/4/2024. Đối với bị cáo H2, ngoài việc thực hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng với T và H thì bị cáo còn thực hiện hành vi cất giấu 0,1089 g ma túy để sử dụng.
Hành vi của bị cáo T và H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, tuyên hình phạt tù đối với các bị cáo theo tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo T và H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, thuộc trường hợp đồng phạm, nhiều lần cùng nhau thực hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người. Bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy, do muốn có tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng nên đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đã thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, vi phạm quy định của pháp luật về phòng chống ma túy, làm ảnh hưởng
6
xấu đến trật tự an toàn xã hội và công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm về ma túy của các cơ quan chức năng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự theo điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo phạm nhiều tội nên cấp sơ thẩm đã tuyên hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt là đúng quy định tại Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với vai trò, hành vi phạm tội của từng bị cáo và ở mức thấp, đầu khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được chứng cứ là tình tiết giảm nhẹ nào khác nên không có cơ sở chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Chí H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang;
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Chí H phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 15 (mười lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/4/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
7
Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 15 (mười lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/4/2024.
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Mỗi bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Chí H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 153/2024/HS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 153/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
