TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 153/2024/HS-ST
Ngày 26 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Vũ Thị Kim Dung, nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Bà Bùi Thị Thu Hằng, nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Minh H, sinh năm 1999 tại Sơn La; trú tại: Thôn D, xã V, huyện P, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Bùi Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị bắt tạm giam ngày 22/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.
* Bị hại: Cháu Trần Thị Bảo A, sinh ngày 13/3/2011; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
* Người đại diện hợp của cháu Trần Thị Bảo A: Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1970 và ông Trần Văn K, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là bố mẹ đẻ của cháu Trần Thị Bảo A; đều có mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Trần Thị Bảo A: Bà Kim Hồng T1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V; vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1975 và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1978; cùng địa chỉ: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội Facebook, khoảng đầu năm 2023, Hoàng Minh H có tài khoản là “Hoàng Minh H" đã làm quen với cháu Trần Thị Bảo A, sinh ngày 13/3/2011 có tài khoản “Tran Bao A1". Sau đó, H và cháu Bảo A trao đổi số điện thoại để kết bạn trên ứng dụng Zalo với nhau. Nick zalo của H là “Hoàng Minh H” còn nick zalo của cháu Bảo A là “Tran Bao A1”. Sau đó, H và cháu Bảo A nảy sinh tình cảm yêu đương nên ngày 25/12/2023, H và cháu Bảo A hẹn gặp nhau. Cháu Bảo A sử dụng ứng dụng Zalo nhắn tin hẹn gặp H tại nhà nghỉ T2 thuộc phường H, thành phố V đồng thời gửi vị trí để H đến nhà nghỉ này.
Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, H điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 26K1-225.16 đi đến nhà nghỉ T2, thuê phòng số 102 của nhà nghỉ sau đó nhắn tin cho cháu Bảo A biết là mình đã đến và chờ cháu Bảo A. Khoảng 13 giờ cùng ngày, cháu Bảo A đi đến phòng nghỉ 102 nhà nghỉ T2. Sau khi vào phòng, cháu Bảo A ngồi trên giường cùng H nói chuyện được một lúc thì cháu Bảo A tiến đến hôn môi H và tự cởi áo khoác nỉ có mũ màu đen và quần bò dài màu xanh bạc, H dùng tay cởi áo quần lót màu đen và cởi áo lót của cháu Bảo A bằng cách luồn quai áo lót qua áo len rồi hôn ngực cháu Bảo A. Sau đó, H cũng tự cởi quần áo của mình ra, lúc này, cháu Bảo A chỉ còn mặc trên người chiếc áo len màu cam. Cháu Bảo A dùng miệng kích thích dương vật đang cương cứng của H khoảng gần 01 phút rồi H lấy bao cao su đã chuẩn bị từ trước, đeo vào dương vật đang cương cứng của H và thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bảo A. Quá trình thực hiện hành vi giao cấu, cháu Bảo A và H thống nhất dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 plus của H để ghi lại cảnh hai người đang quan hệ tình dục. Khoảng 15-20 phút sau, H xuất tinh vào trong bao cao su và rút dương vật ra khỏi âm đạo của cháu Bảo A. Sau khi giao cấu xong, H rút bao cao su từ dương vật ra rồi vứt vào thùng rác trong nhà tắm phòng nghỉ 102 và cả hai tự mặc quần áo. Đến khoảng 14 giờ, cháu Bảo A tự đi về trước, H đi về sau. Ngoài lần giao cấu trên, H không giao cấu với Bảo A lần nào khác.
Ngày 21/01/2024, cháu Bảo A đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V trình báo sự việc H thực hiện hành vi giao cấu với mình vào ngày 25/12/2023. Đến ngày 22/01/2024, H đã đến cơ quan Công an đầu thú và giao nộp 01 xe mô tô biển số xe 26K1-225.16; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 bên trong có chứa 01 đoạn video ghi lại quá trình H và cháu Bảo A quan hệ tình dục. Bà H2 là mẹ cháu Bảo A giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh có ốp màu đen; 01 quần bò màu xanh bạc; 01 áo len cổ lọ màu cam và 01 quần lót màu đen.
Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 06/KLTDTE-PYVP ngày 24/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V đối với cháu Trần Thị Bảo A kết luận: Trên cơ thể không có dấu vết tổn thương, xếp 00%. Màng trinh: Rách cũ ở vị trí 03 giờ và 09 giờ. Hiện tại không thấy có thai. Không tìm thấy xác tinh trùng trong dịch âm hộ, âm đạo của Trần Thị Bảo A. Xét nghiệm HIV: Âm tính. Xét nghiệm Viêm gam B: Âm tính.
Tại Bản kết luận giám định khả năng tình dục nam số: 54/KLKNTD-PYVP ngày 06/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V đối với Hoàng Minh H kết luận: Hiện tại trên cơ thể không phát hiện dấu vết thương tích gì xếp 00%. Hiện tại âm tính với HbsAg; HIV Ag/Ab. Qua quá trình khám giám định, xác định H tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.
Tại bản Kết luận giám định số: 1761/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V đã trích xuất được các hình ảnh hiển thị tin nhắn tại ứng dụng Messenger, Z và hình ảnh của người xuất hiện trong video. Nội dung hình ảnh tin nhắn Messenger, Zalo thể hiện nội dung trò chuyện giữa Hoàng Minh H và cháu Trần Thị Bảo A và hình ảnh người xuất hiện trong video đều phù hợp với lời khai của H và cháu Bảo A.
Ngày 10/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tiến hành thực nghiệm điều tra về các tình tiết của vụ án, kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của H, cháu Bảo A và các tài liệu, chứng cứ.
Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, bà H2 yêu cầu H bồi thường số tiền 61.400.000 đồng trong đó tiền bồi thường danh dự, nhân phẩm là 10 tháng lương cơ bản: 10 x 2.340.000 đồng/tháng = 23.400.000 đồng, chi phí khám chữa bệnh là 10.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của bà H2 trong thời gian 10 ngày chăm sóc cháu Bảo A là 3.000.000 đồng. H đồng ý bồi thường số tiền 61.400.000 đồng và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 161/CT-VKSTP.VY ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Hoàng Minh H về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã thực hiện với cháu Bảo A như Cáo trạng đã nêu là đúng và đồng ý tiếp tục bồi thường cho cháu Bảo A số tiền còn lại 46.400.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường như quá trình điều tra, không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Minh H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 46.400.000 đồng.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 xe máy biển kiểm soát 26K1-225.16 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 01 quần bò màu xanh; 01 áo len cổ lọ màu cam và 01 quần lót cho bị hại.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho bị hại cháu Trần Thị Bảo A, bà Kim Hồng T1 gửi bài phát biểu có nội dung đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật và buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 46.400.000 đồng.
Bị cáo nghe rõ, nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, hòa nhập cộng đồng và khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại.
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông K không đồng ý với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, ông đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức hình phạt 10 năm tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên giữ nguyên quan điểm về mức hình phạt đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên có cơ sở để xác định:
Do có quan hệ tình cảm nên khoảng 13 giờ 30 ngày 25/12/2023, tại phòng số 102 nhà nghỉ T2 thuộc tổ dân phố Q, phường H, thành phố V, Hoàng Minh H đã có hành vi giao cấu với cháu Trần Thị Bảo A, tại thời điểm H thực hiện giao cấu với cháu Bảo A thì cháu Bảo A 12 tuổi 09 tháng 12 ngày là người dưới 13 tuổi. Khi giao cấu, cháu Bảo A tự nguyện và không có tổn hại gì về sức khỏe.
Hành vi của bị cáo H thực hiện hành vi giao cấu với cháu Trần Thị Bảo A khi cháu Bảo A dưới 13 tuổi đã phạm vào tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức nhưng chỉ vì ham muốn của bản thân, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em. Cần áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 01/10/2019 để áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Do vậy, cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú; gia đình bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo đã tác động đến gia đình để nộp một phần tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên để bồi thường cho bị hại, tuy nhiên số tiền bồi thường đã nộp chưa đủ ½ số tiền bị cáo phải bồi thường nên không được áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, mặc dù người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị phải xử phạt bị cáo mức án cao hơn so với mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật khi lượng hình phạt sẽ tuyên mức án nghiêm đối với bị cáo nhưng vẫn phù hợp với các tình tiết, tính chất mức độ của vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường danh dự, nhân phẩm, chi phí khám chữa bệnh và tiền mất thu nhập của người chăm sóc tổng số tiền là 61.400.000 đồng. Bị cáo đồng ý và đã bồi thường được số tiền 15.000.000 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại là tự nguyện nên được chấp nhận, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại 46.400.000 đồng.
[6] Về tang vật:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus số IMEI 352485851431459 và 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển số xe 26K1-225.16. Quá trình điều tra xác định đây là những tài sản hợp pháp của H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu và OPPO màu xanh; 01 quần bò màu xanh bạc; 01 áo len cổ lọ màu cam và 01 quần lót màu đen. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của cháu Bảo A cần trả lại cho cháu Bảo A.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh H 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/01/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 592 của Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Hoàng Minh H phải bồi thường thiệt hại cho bị hại cháu Trần Thị Bảo A về tổn thất tinh thần, chi phí khám chữa bệnh và tiền mất thu nhập của người chăm sóc số tiền 61.400.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Phạm Thị H2, ông Trần Văn K và bị hại cháu Trần Thị Bảo A được nhận số tiền bị cáo Hoàng Minh H đã bồi thường là 15.000.000 đồng theo giấy nộp tiền số 72001 ngày 16/9/2024 (số TK 394901047795 – tên TK: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).
Bị cáo H còn phải tiếp tục bồi thường cho cháu Trần Thị Bảo A số tiền 46.400.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên thì còn phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về tang vật: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Hoàng Minh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả số vụ 1007/2024” và 01 xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển kiểm soát 26K1-225.16 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả số vụ 1007/2024”; 01 quần bò màu xanh; 01 áo len cổ lọ màu cam và 01 quần lót cho bà Phạm Thị H2, ông Trần Văn K và cháu Trần Thị Bảo A.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.320.000 đồng án phí dân sự trong hình sự.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoài |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Minh Hiếu hiếp dâm người dưới 16 tuổi
