Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HS-PT

Ngày 10 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch.

Các Thẩm phán: Ông Đoàn Hoài Trí.

Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành N do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Các bị cáo bị kháng nghị:

1. Nguyễn Thành N, sinh năm 1997, tại tỉnh Bình Dương; đăng ký thường trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị Ngọc M, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 29/12/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 30/2017/HS-PT. Ngày 30/3/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong việc nộp án phí; tiền sự: không; nhân thân: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thành T, sinh ngày 30/7/2006 tại tỉnh Bình Dương; đăng ký thường trú: ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hiệp T1, sinh năm 1963 (chết) và bà Trần Thị

L, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: ngày 17/4/2023, bị Công an xã L, huyện B xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, theo Quyết định số 18/QĐXPHC; ngày 26/5/2023, bị Công an xã L, huyện B xử phạt 950.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 08/QĐXPHC; ngày 31/7/2023, bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện B quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 09/QĐXPHC;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/9/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T: Ông Bùi Duy H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Cao K, sinh năm 2002, đăng ký thường trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; hiện đang cai nghiện ma tý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 22 tháng 9 năm 2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thành N sử dụng tài khoản của N tên “Đi về đâu” trên ứng dụng Messenger của mạng xã hội Facebook gọi đến tài khoản tên “Nguyễn Cao K" của Nguyễn Cao K và nói N có 200.000 đồng, kêu K mua ma túy về cùng nhau sử dụng, K đồng ý. N gọi trên ứng dụng M1 cho Nguyễn Thành T kêu T mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý. T sử dụng ứng dụng Messenger của mạng xã hội Facebook tên “Thành Tâm” gọi cho K hỏi còn tiền không đi mua đồ (ma túy) về chơi thì K trả lời có và kêu T đến nhà K. T điều khiển xe mô tô biển số 60M7-4661 đến nhà K. K mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ (không rõ biển số) của người đàn ông gần nhà đến nhà N để chở N cùng đi đến nhà T tại ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi T, N và K gặp nhau, T kêu K điều khiển xe mô tô chở N đến nhà T chờ rồi quay lại nhà của K. Khi K chở N đến nhà T thì N đưa cho K 200.000 đồng để mua ma túy và 45.000 đồng mua nước uống, thuốc lá và thẻ cào điện thoại. Sau khi nhận 245.000 đồng, K điều khiển xe về nhà K để trả xe đã mượn của người đàn ông, K lấy xe mô tô biển số 60M7-4661 chở T đi đến khu vực phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) đang đứng trên lề đường mua 200.000 đồng ma túy đá. Người thanh niên đưa cho K 01 túi nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau đó, K chở T quay về nhà T, trên đường đi, K vào tiệm tạp hóa ven đường mua thẻ cào điện thoại, nước uống và thuốc lá. Đến 19 giờ 00 cùng ngày, K điều khiển xe mô tô chở T về đến nhà

của T. Tại đây, T, K và N cùng nhau vào phòng ngủ của T, chốt cửa phòng lại. T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu trong phòng ra, K trực tiếp cầm túi nylon chứa ma túy đổ vào trong nỏ thủy tinh (dụng cụ dùng để sử dụng ma túy). T, K và N đốt ma túy cùng nhau sử dụng, sau đó cả ba ngồi trong phòng chơi game. Khoảng hơn 22 giờ 00 cùng ngày, nhận tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà T có người sử dụng ma túy, Công an xã L kiểm tra hành chính nhà của T ở ấp A, xã L, huyện B. Thấy Công an vào nhà kiểm tra, T bỏ chạy, nhảy xuống sông Đ trốn thoát. Công an xã L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và K và thu giữ:

  • - 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;
  • - 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 (một) vỏ chai nước ngọt hiệu Sting có nắp khoét 02 lỗ tròn, 02 (hai) nỏ thủy tinh, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím; 01 (một) chiếc đũa bằng kim loại phần đầu được mài sắc, nhọn;
  • - 02 (hai) cái kéo bằng kim loại;
  • - 01 (một) cái kéo dài 20cm, cán kéo có bọc nhựa màu đen;
  • - 01 (một) cái P (thuốc lá điện tử) đã qua sử dụng;
  • - 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng;
  • - 02 (hai) túi nylon có 01 đầu hàn kín, 01 đầu bị cắt hở;
  • - 06 (sáu) bật lửa đã qua sử dụng;
  • - 04 (bốn) bộ phận đánh lửa của bật lửa bị tháo rời;
  • - 01 (một) cây kim loại có gắn 01 phần ruột bút bi;
  • - 01 (một) cái phễu lọc bằng thủy tinh;
  • - 01 (một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, bị hỏng màn hình, mặt sau điện thoại không có ốp lưng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, kiểu TA1017;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đen;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen;
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 60M7-4661 số khung không có, số máy HA02E1121634.

Ngày 24 tháng 9 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thành T đến Công an xã L đầu thú, Công an xã L tạm giữ: 01 (một) căn cước công dân tên Nguyễn Thành T. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an xã L bàn giao T, N và Kỳ cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số 543/ KL-KTHS ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ tại nhà

của Nguyễn Thành T vào ngày 22 tháng 9 năm 2023 gửi giám định không thấy loại ma túy thường gặp có khối lượng 0,2997 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 1641/KL-KTHS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất bám dính trong 02 (hai) nỏ thủy tinh bị vỡ và 01 gói nylon hàn kín miệng hở thu giữ tại nhà của Nguyễn Thành T vào ngày 22 tháng 9 năm 2023 gửi giám định là ma túy đá (loại Methamphetamine).

Đối với 01 (một) bìa thu được niêm phong có đóng dấu của cơ quan giám định, bên trong có chứa 0,2194 gam chất tinh thể màu trắng (không phải là ma túy và tiền chất) hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 543 K1-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B.

Đối với 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 (một) và chai nước Sting nắp có đục 02 lỗ tròn, 02 (hai) nỏ thủy tinh. 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím; 01 (một) chiếc đũa bằng kim loại phần đầu được mài sắc, nhọn; 02 (hai) cái kéo bằng kim loại; 01 (một) cái kéo dài 20cm, cán bọc nhựa màu đen; 01 (một) cái P (thuốc lá điện tử) đã qua sử dụng: 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng, 02 (hai) túi nylon có 01 đầu hàn kín, 01 đầu đã bị cắt hở; 06 (sáu) bật lửa đã qua sử dụng, 04 (bốn) bộ phận đánh lửa của bật lửa bị tháo rời; 01 (một) cây kim loại có gắn 01 phần ruột bút bi; 01 (một) cái phễu lọc bằng thủy tinh thu giữ tại phòng của T: T dùng các vật dụng cụ này để làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với 01 (một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu đã bị hỏng màn hình, mặt sau điện thoại không có ốp lưng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen thu giữ của N, T, K là phương tiện N, T, K sử dụng để liên lạc với nhau để cùng nhau sử dụng ma túy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kiểu TA1017 tạm giữ của N, là tài sản cá nhân của N không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 01 (một) căn cước công dân tên Nguyễn Thành T tạm giữ của T, là tài sản cá nhân của T không liên quan đến hành vi phạm tội.

Xe mô tô hiệu Honda kiểu dáng Cub 81 gắn biển số 60M7-4661 số khung không có, số máy HA02E1121634. Biển số 60M7 - 4661 do bà Thị H2 (sinh năm 1982, đăng ký thường trú: ấp C, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai) đăng ký đối với xe mô tô nhãn hiệu Dayang số khung VMXLCG0033U122581, số máy VTRDY150FMG80122581. Kết quả xác minh tại Công an xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai xác định hiện tại bà H2 không có mặt tại địa phương và không rõ ở đâu. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng tại Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành thông báo tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô này gửi Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Dương nhưng không có kết quả.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.”

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm b, c, đ, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thành N.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 9 năm 2023.

2/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.”

Căn cứ điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101; điểm b, đ khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thành T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 9 năm 2023.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, Viện trưởng Viện Kiểm kiểm sát nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 14/QĐ-VKSBD-P7 ngày 05/6/2024 về việc kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên theo hướng đề nghị hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ về Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên để điều tra lại theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị và cho rằng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã không điều tra, xác minh, làm rõ đối với hành vi của Nguyễn Cao K về việc dùng 200.000 đồng (mà N đưa cho) để mua và nhận ma túy từ người bán về phòng của Nguyễn Thành T để cùng nhau sử dụng. K là người trực tiếp đổ ma túy vào nỏ để cả ba T, N và Kỳ cùng sử dụng. Như vậy, hành vi của K đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng đã không xem xét đến hành vi của Nguyễn Cao K là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Việc bỏ lọt tội phạm là không giải quyết toàn diện vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm, trả hồ sơ về cho cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm để điều tra, xét xử một cách toàn diện đối với vụ án.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T thống nhất nội dung vụ án, tội danh và mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo T, thời điểm phạm tội và xét xử sơ thẩm bị cáo T chưa đủ 18 tuổi, bị cáo chưa nhận thức rõ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo T.

Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Cao K không tranh luận. Các bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Cao K, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung: Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thành N có hành vi rủ rê bị cáo Nguyễn Thành T (thời điểm này T chưa đủ 18 tuổi) và Nguyễn Cao K (là người nghiện ma túy đã có quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) mua ma túy loại Methamphetamine để cùng nhau sử dụng. N đưa cho K 200.000 đồng để K cùng bị cáo T đi mua ma túy mang về nhà của T. Bị cáo T dùng phòng ngủ của mình, chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy để cùng bị cáo N và K sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c, đ, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc hủy án sơ thẩm do bỏ lọt tội phạm đối với Nguyễn Cao K: Xét thấy, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thành T và Nguyễn Cao K cùng nhau thỏa thuận, thống nhất ý chí về việc bị cáo N đưa số tiền 200.000 đồng để bị cáo T cùng K đi mua ma túy, K là người trực tiếp giao tiền và nhận ma túy từ người bán, đem ma túy về cùng nhau sử dụng; bị cáo T cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy; K trực tiếp đổ ma túy vào nỏ thủy tinh để Tâm, N và Kỳ cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Cao K ý thức được mục đích cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bị cáo N. Hành vi của K có dấu hiệu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng huyện B không tiến hành điều tra làm rõ để có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Cao K là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Đây là sai sót của cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, do đó, cần hủy bản án sơ thẩm và trả hồ sơ về cho cơ quan tiến hành tố tụng của huyện B điều tra, truy tố, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

[3] Từ những nhận định trên, xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 14/QĐ-VKSBD-P7 ngày 05

tháng 6 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Giao hồ sơ về cho Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên để điều tra lại theo thủ tục chung. Tiếp tục tạm giam các bị cáo cho đến khi Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên thụ lý lại vụ án.

2. Án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành N không phải chịu.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhận dân huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Công an huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Các bị cáo; người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi các bị cáo cư trú (thay văn bản thông báo);
  • - Lưu HS, Tòa HNGĐ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Bùi Ngọc Thạch

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal appeal)

  • Số bản án: 153/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Appeal)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hủy án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger