Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 8 - 2024

V/v tranh chấp xin ly hôn và

giải quyết việc nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Minh Trung
  2. Bà Phạm Hồng Gái

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 342/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ Á, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ E, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Trọng N, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ E, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 19/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ Á trình bày: Chị và anh Lê Trọng N tự tìm hiểu, yêu thương nhau, có tổ chức làm đám cưới nhưng đến ngày 02/02/2018 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, anh chị có 02 con chung là cháu Lê Ngọc M, sinh ngày 19/11/2017 và Lê Ngọc S, sinh ngày 02/4/2011. Tuy nhiên những năm gần đây, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, bất đồng ý kiến, từ đầu năm 2023 đến nay chị và anh N sống ly thân. Chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh N không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N. Về con chung, các con có nguyện vọng muốn ở với ai thì người đó chăm sóc, nuôi dưỡng và bên kia không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, chị cho rằng quá trình chung sống chị và anh N không tạo lập được tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Trọng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến trình bày tại Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Á, anh N nhưng anh, chị vắng mặt tại phiên tòa, riêng chị Á có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, Điều 227 và khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Á và anh N chung sống với nhau có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 02/02/2018, do đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị Á, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống vợ chồng kể từ năm 2023 cho đến nay, giữa chị và anh N thiếu sự quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, khiến cho hôn nhân rạn nứt, anh chị sống ly thân, hai bên đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Á về việc cho chị ly hôn với anh N.

[4] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng, anh chị có 02 con chung là cháu Lê Ngọc M, sinh ngày 19/11/2017 và Lê Ngọc S, sinh ngày 02/4/2011. Từ khi anh, chị sống ly thân năm 2023, hai cháu sống với cha, anh N vẫn đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần cho các con nên theo nguyện vọng của các con, xét nên giao hai cháu Lê Ngọc M và Lê Ngọc S cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị Á được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Anh N cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Á trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Á và anh N không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Á cho rằng quá trình chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh N không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Á yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Á phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56, khoản 2, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ Á ly hôn với anh Lê Trọng N.
  2. Về nuôi con chung: Giao hai cháu Lê Ngọc M, sinh ngày 19/11/2017 và Lê Ngọc S, sinh ngày 02/4/2011 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chị Á được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Anh N cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Á trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Á và anh N không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Á không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Á phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị Á đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001182 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Á đã nộp xong.
  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - CCTHADS huyện Hòn Đất;
  • - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - UBND TT Sóc Sơn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con

  • Số bản án: 153/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn và nuoi con giữa Nguyễn Thị Mỹ A và Lê Trọng N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger