|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày 30-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Thu
Bà Nguyễn Thị Quế Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh H – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1502024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Hoàng H1, sinh năm: 1988, tại tỉnh Long An; Hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Trần Hoàng T; Mẹ: Châu Thị Diễm T1; Vợ: Lê Thị T2 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 người con, không nhớ rõ năm sinh.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 25/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1976; Địa chỉ: F T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hoàng H1 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine). Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên H1 đã dùng điện thoại di động hiệu FONROX để liên lạc với người đàn ông tên H2 để mua ma túy. Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 25/6/2024 H1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblde, biển số 72C1-028.34 đến khu vực đường N, thành phố V gặp H2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đựng trong bao thuốc lá “SAIGON” và 01 đoạn ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 12 cm bên trong có chứa chất rắn kết tinh không màu trong suốt với giá 2.000.000đ nhưng H1 chưa trả tiền cho H2. Sau khi có số ma tuý trên, H1 cất giấu vào trong các túi quần phía trước H1 đang mặc rồi điều khiển xe mô tô trên đến khu vực trước quán cà phê “Biển Nhớ” thuộc ấp P, xã P, huyện L thì Đồn biên phòng P - Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh B kiểm tra, phát hiện H1 có hành vi tàng trữ trái phép số ma tuý như nêu trên nên tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H1 đồng thời, thu giữ toàn bộ vật chứng để xử lý. Sau đó, Đồn biên phòng P chuyển giao H1 cùng toàn bộ vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L điều tra theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Công an, Trần Hoàng H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Mục đích, H1 tàng trữ trái phép số ma túy trên là để sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 442/KL-KTHS-MT ngày 29/6/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận:
- Một phong bì màu trắng được niêm phong, có hình dấu của Đồn Biên phòng P –Bộ CHBĐBP tỉnh B cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Phạm Thân Q, Trung tá Cao Khắc S, Nguyễn C, Trần Lê H3, “Trần Hoàng H1”, Bùi Xuân M bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu trong suốt (ký hiệu mẫu A1); 01 ống thủy tinh chứa chất kết tinh không màu trong suốt (ký hiệu mẫu A2) gửi đến giám định: Mẫu A1 có khối lượng 0,4920 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu A2 có khối lượng 0,1353 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
- Về vật chứng thu giữ và xử lý:
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AirBlade, màu trắng, biển số 72C1-028.34 là của anh Hoàng Văn T3. Ngày 25/6/2024 chị Nguyễn Thị V (vợ của anh T3) cho Trần Hoàng H1 mượn. Chị V, anh T3 không biết H1 sử dụng xe mô tô đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu.
+ Riêng 01 phong bì số 422 ngày 02/7/2024 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON; 01 điện thoại di động hiệu FONROX, màu đen, đã qua sử dụng, hiện đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.
Cáo trạng số 154/CT-VKSLĐ ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố bị cáo Trần Hoàng H1, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Hoàng H1 đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo, bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Trần Hoàng H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoàng H1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong 422 ngày 02/7/2024 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON.
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu FONROX, màu đen, đã qua sử dụng vì liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc ổn định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2]. Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tại phiên tòa, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T3 vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai, ông T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Xét thấy việc vắng mặt của ông T3 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt ông T3 theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Xét các chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 25/6/2024, tại khu vực trước quán cà phê “Biển Nhớ” thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đồn Biên phòng P – Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh B bắt quả tang Trần Hoàng H1 tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,6273 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Bị cáo Trần Hoàng H1 là người trưởng thành, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 154/CT-VKSLĐ ngày 30/9/2204, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Đối với người người đàn ông tên H2 không rõ nhân thân lai lịch đã bán ma túy cho H1 đề nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.
[2.2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng để bị cáo sớm trở thành công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung về tội phạm xã hội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sử dụng ma túy, không xác định được thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.5] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong 422 ngày 02/7/2024 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON;
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu FONROX, màu đen, đã qua sử dụng vì liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1.1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng H1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong 422 ngày 02/7/2024 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON.
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu FONROX, màu đen, đã qua sử dụng.
Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Điền đang lưu giữ, bảo quản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 02/BB-CCTHADS ngày 01/10/2024.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Hoàng H1 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Châm |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
