TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN Bản án số:153/2024/HS-ST Ngày: 18-06-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phan Chân Nhân
Các hội thẩm nhân dân: Nguyễn Công Thẩm – Bà Trần Thị Hồng
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hoài- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh
- Đại diện VKSND Thành phố Vinh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Vinh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/HSST, ngày 17 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Tuấn D. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 27/4/1994; Nơi ĐKNKTT: Xóm K, H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn D1, sinh năm 1956 (Đã chết); con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1959; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ: Lê Thị H2, sinh năm 1994; Con: Chưa có; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 12/6/2019 Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “ đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở của người khác”.
Nhân thân: Ngày 17/9/2014 Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, Ngày 30/12/2016 Công an huyện H xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “ xâm hại tính mạng sức khỏe của người khác”.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng đầu năm 2023, Hoàng Tuấn D đi đến cửa khẩu N mua đào. Tại đây, D quen biết một người phụ nữ tên C (không biết lai lịch, địa chỉ). Sau đó, D hỏi mua của C 100 viên thuốc lắc và 7.000.000 đồng ma túy ketamine. D đến cửa hàng V (không nhớ địa chỉ) chuyển 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) cho C thì C chuyển thuốc lắc và ketamine cho D qua xe khách về Bến xe B. D cất giấu số ma túy trên ở phòng trọ nhà số I, ngõ B, đường H, thuộc khối V, phường Đ, TP V, Nghệ An để bán dần. Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, Hoàng Tuấn D đang ở ốt bán hoa quả, xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An thì có một người đàn ông tên tên thường gọi là “Dũng L” gọi điện thoại cho Hoàng Tuấn D để hỏi mua 13 viên thuốc lắc thì D đồng ý và nói “Dũng L” chuyển tiền qua tài khoản rồi Hoàng Tuấn D vứt cho. Sau đó, Hoàng Tuấn D đi về phòng trọ ở ngõ B, đường H, thuộc khối V, phường Đ, TP V lấy trong tủ 01 gói ni lông màu trắng chứa 13 viên ma túy thuốc lắc rồi bỏ vào gói thuốc lá White H3 và cất giấu vào túi quần phía trước bên phải của D để đi bán cho “Dũng L”. Khi Hoàng T D đang đi ra khỏi phòng trọ thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Hoàng Tuấn D 01 bao thuốc lá White House, bên trong có 01 gói ni lông màu trắng, bên trong chứa 13 viên nén màu xám vàng, kiểu hình dáng giống viên kim cương (ký hiệu M1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, có sim số 0859607607 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhân hiệu N1, vỏ màu xanh, có gắn sim số 0705978018 (đã qua sử dụng). Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an phường Đ, TP V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 54, 55). Cùng ngày 17/10/2023, tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Hoàng Tuấn D tại tầng C, nhà số I, ngõ B đường H. D đã tự nguyện giao nộp: 01 hộp nhựa hình trụ bên trong chứa nhiều viên nén hình kim cương màu xám vàng (ký hiệu M2) và 01 gói ni lông bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3). Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ: 01 điện thoại Iphone X (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 điện thoại nhân hiệu Iphone 11 promax, màu đen (đã qua sử dụng); 01 xe ô tô mazda 3, màu xanh ngọc mang biển số: 37A - 801.82 (đã qua sử dụng); 01 xe máy nhãn hiệu SH mode màu đỏ, mang biển số: 3781 – 110.24 (đã qua sử dụng); 01 cân điện tử nhãn hiệu Pocket scale, màu đen (đã qua sử dụng).
Tại cơ quan điều tra Hoàng Tuấn D đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 17/10/2023 và Kết luận giám định số: 1000/KL-KTHS(D2-MT) ngày 24/10/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: - 02 (hai) mẫu viên nén màu xám vàng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Hoàng Tuấn D gửi tới giám định đều là ma túy (MDMA). Trong đó: số viên nén màu xám vàng thu giữ của Hoàng Tuấn D trong quá trình bắt quả tang có tổng khối lượng là 6,2g (sáu phẩy hai gam); Số viên nén màu xám vàng thu giữ của Hoàng Tuấn D trong quá trình khám xét có tổng khối lượng là 7,67g (Bảy phẩy sáu mươi bảy gam). Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3) thu giữ của Hoàng Tuấn D trong quá trình khám xét, gửi đến giám định là ma túy (Ketamine), có khối lượng 0,79g (không phẩy bảy chín gam) (BL 66).
Tại Điều 5 Nghị Định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, thì tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của Hoàng Tuấn D được tính như sau: Đối với 13,87gam ma túy (MDMA). Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA quy định tại điểm b khoản 3 điều 251 là 46,23% (13,87 gam so với 30 gam).
- Đối với 0,79 gam ma túy (Ketamine). Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại điểm n khoản 2 điều 251 là 3,95% (0,79 gam so với 20 gam). Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy thu giữ của Hoàng Tuấn D là 50,18% (dưới 100%).
Vì vậy tổng khối lượng các chất ma túy do Hoàng Tuấn D D cất dấu để bán cho người khác thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự.
* Vật chứng vụ án: 01 hộp giấy niêm phong dán kín, bên trong chứa 11,49g (mười một phẩy bốn chin gam) ma túy MDMA và 0,59g (không phẩy năm chín gam) ma túy Ketamine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, imei: 352877105747336, bên trong gắn 01 sim số 0705978018; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax, màu đen, số imei: 352861111697123, bên trong gắn 01 sim điện thoại (đã qua sử dụng); 01 cân điện tử nhãn hiệu Pocket Scale (đã qua sử dụng). Tất cả các vật chứng trên đều thu giữ của Hoàng Tuấn D, hiện được bảo quản tại kho vật chứng Chỉ Cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SH mode màu đỏ, đen, mang biển số 3751-110.24; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng; 01 điện thoại Iphone X màu đen. Quá trình điều tra, xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại cho vợ của Hoàng Tuấn D là chị Lê Thị H2, sinh năm 1994, nơi cư trú: Khối H, phường N, TX C, tỉnh Nghệ An, chỗ ở hiện nay: Nhà số I, ngõ B, đường H, phường Đ, TP V, tỉnh Nghệ An vào ngày 10/12/2023 (119).
Đối với 01 xe ô tô Mazda3, màu xanh, mang biển số: 37A – 801.82; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu tím, bên trong gắn sim 0859607607, thu giữ của Hoàng Tuấn D. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã trả lại cho chị Lê Thị H2 (vợ của D) vào ngày 09/5/2024.
Đối với tài khoản số [...] mang tên Hoàng Tuấn D mở tại ngân hàng TMCP Q (M) chi nhánh N2 xét thấy không liên quan đến vụ án, ngày 07/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an T đã ra Quyết định mở phong tỏa tài khoản nêu trên.
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 148 ngày 16/5/2024 VKSND Thành phố V đã truy tố Hoàng Tuấn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 điều 251 BLHS 2015.
Tại phiên tòa đại diện VKS thực hành quyền công tố giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng VKS đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS 2015; khoản 2 điều 106 BLTTHS 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù, tiêu hủy số ma túy thu giữ và 01 cân điện tử nhãn hiệu pocket scale vật chứng vụ án. Hoá giá sung quỹ nhà nước 02 chiếc điện thoại di động vật chứng sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra và điều tra viên, Viện kiểm sát và kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, truy tố. Tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các văn bản, tài liệu, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Hoàng Tuấn D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng VKS đã truy tố, bị cáo thừa nhận đã mua 100 viên thuốc lắc và 7.000.000 đồng ma túy ketamine của một người phụ nữ tên C (không biết lai lịch địa chỉ cụ thể) với giá 22.000.000 đồng, sau đó bán lại cho một người đàn ông tên D 6,2 gam ma túy MDMA với giá 3.500.000 đồng, mục đích để kiếm lời nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Khám xét khẩn cấp thì thu giữ tại nơi ở của bị cáo 7,67 gam ma túy MDMA; 0,79 gam ma túy Ketamin bị cáo cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở để kết luận hành vi của Hoàng T D phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Do khối lượng ma túy bị cáo bán bị bắt quả tang là 13,87 gam ma túy (MDMA) và 0,79 gam ma túy (Ketamine), tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy thu giữ của Hoàng Tuấn D là 50,18% (dưới 100%). Theo nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 thì tổng khối lượng các chất ma túy do Hoàng Tuấn D bán thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 BLHS nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố là chính xác.
[3] Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét tội phạm thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, trái với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước ta đang ra sức đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử lý nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa thái độ khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi lượng hình phạt, nghĩ xử phạt bị cáo mức án thấp như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm. Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người phụ nữ tên C là người đã bán ma túy cho D, nhưng D không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, sẽ xử lý sau.
[4] Về vật chứng vụ án: Số ma túy (MDMA) và ma túy (Ketamine) là hàng cấm thu giữ tại bị cáo cần tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax và điện thoại nhãn hiệu nokia 105 màu xanh là phương tiện phạm tội nên hoá giá sung quỹ nhà nước. Đối với 01 chiếc cân điện tử nhãn hiệu pocket scale là công cụ phạm tội không có giá trị nên cần tiêu huỷ.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố Hoàng Tuấn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm p khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015.
Xử phạt: Hoàng Tuấn D 8 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 17/10/2023.
3. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS 2015, điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS 2015: Tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong dán kín thu giữ vật chứng của bị cáo và 01 chiếc cân điện tử nhãn hiệu pocket scale; Hoá giá sung vào ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động. Các vật chứng này hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh có đặc điểm theo phiếu nhập kho số NK 2024 ngày 4 tháng 6 năm 2024.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS 2015; điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Hoàng Tuấn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Chân Nhân |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do muốn kiếm lời nên Hoàng Tuấn D đã mua 100 viên thuốc lắc và 7.000.000 đồng ma túy ketamine của một người phụ nữ tên C (không biết lai lịch địa chỉ cụ thể) với giá 22.000.000 đồng, sau đó bán lại cho một người đàn ông tên D 6,2 gam ma túy MDMA với giá 3.500.000 đồng, mục đích để kiếm lời nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị Công an phát hiện bắt giữ
